Ý nghĩa sơ lược của các tượng thờ Phật giáo

Ý nghĩa sơ lược của các tượng thờ Phật giáo người Việt mình thờ Phật theo lối thế gian, hiểu nôm na là lối thờ bình dân, thiết thực. Đã là lối thờ bình dân thì trăm bề đều cần đến đồ thờ, tượng thờ để vừa gợi ý hướng lòng vào tâm đạo, vừa gây cái ý thức trang nghiêm sùng kính khi bước chân vào cửa thiền. Những pho tượng ngự trên tầng cao kia, thực chất là cái phương tiện hữu hình để nói về những lẽ đạo sâu xa, đồng thời là bài học dạy làm người thấm đẫm tư tưởng Phật giáo. Vì thế, người Phật tử đến lễ chùa thường ngước mặt chiêm ngưỡng tượng mà tìm đến Như Lai. Trong hệ thống tượng được bày trên ban thờ, thông thường chúng tôi sắp xếp theo thứ tự kể từ trong ra ngoài.

Lớp tượng ở trên cao và sâu nhất: Tam Thế Phật

Nằm ở nơi cao nhất và sâu nhất thuộc chính điện là bộ Tam Thế Phật. Người trong nghề gọi tên đầy đủ của các Ngài là Tam Thế Thường Trụ Diệu Pháp Thân.

Cái danh tự này có nghĩa lý sâu xa lắm: “Tam Thế” là ba thời kỳ, gồm quá khứ gọi là Trang Nghiêm đại kiếp, hiện tại gọi là Hiền kiếp, và vị lai gọi là Tinh Tú kiếp. Mỗi một đại kiếp như vậy kéo dài xấp xỉ bằng 1.344.000.000 năm. “Thường Trụ” nghĩa là sự tồn tại vĩnh hằng, không bao giờ mất đi. “Diệu” là những gì đẹp đẽ, linh thiêng và nhiệm mầu nhất. Còn “Pháp Thân” chính là cái thân chân thực không hề biến đổi, chẳng hề lệ thuộc vào hình – danh – sắc – tướng, không sinh cũng không diệt, tức là cái đạo thể, là Phật thân vĩnh cửu.

Bộ tượng này còn một tên gọi khác là Tam Thế Tam Thiên Phật, ý chỉ ba nghìn vị Phật nối nhau giáo hóa chúng sinh qua suốt ba đại kiếp. Nói thế để thấy, nhiều người đi chùa vẫn lầm tưởng ba pho này là biểu thân của A Di Đà Phật, Thích Ca Mầu Ni Phật và Di Lặc Phật – hiểu như vậy là chưa đúng với cốt lõi của nhà Phật.

Bộ tượng Di Đà Tam Tôn và Hoa Nghiêm Tam Thánh

1. Di Đà Tam Tôn (Di Đà Tiếp Dẫn)

Lớp tượng tiếp theo gồm có A Di Đà Phật ngồi ở vị trí chính giữa, bên tay trái Ngài là Quan Thế Âm Bồ Tát, còn bên tay phải là Đại Thế Chí Bồ Tát. Anh em làm nghề còn gọi đây là bộ Di Đà Tiếp Dẫn – mang ý nghĩa đón rước những chúng sinh đã đắc Phật quả về với cõi Tây phương cực lạc, nơi không còn sinh, lão, bệnh, tử, thoát khỏi vòng luân hồi khổ đau.

Đức A Di Đà Phật đứng chủ về cõi Niết Bàn ở phương Tây, Ngài sở hữu 13 đại hồng danh, trong đó nổi bật nhất là Vô Lượng Quang Phật (ánh sáng Phật pháp tỏa ra muôn nơi không gì che cản nổi để cứu độ chúng sinh) và Vô Lượng Thọ Phật (vị Phật có thọ mạng ngang cùng trời đất để giáo hóa mọi kiếp đời). Khi làm thị giả đứng hai bên, Quan Thế Âm Bồ Tát đại diện cho bốn đức tính lớn: đại từ, đại bi, đại hỉ, đại xả; còn Đại Thế Chí Bồ Tát lại biểu trưng cho đại hùng, đại lực, đại trí, đại tuệ. Tích truyện kể rằng, mỗi bước chân Ngài Thế Chí đi làm rung chuyển cả thế giới Ma Vương, nghĩa là trí tuệ đi đến đâu thì sự ngu tối và tàn ác bị diệt trừ đến đấy.

Cái hay trong đồ thờ của người Việt là từ thế kỷ XVII trở về sau, nhiều khi tượng Di Đà được tạc ở tư thế đứng lên. Trường hợp này gọi là Di Đà phóng quang (hoặc phát quang), biểu thị cho sự cứu độ một cách gấp gáp, vội vã. Hiện tượng này thường chỉ xuất hiện khi đời sống con người gặp nhiều khổ đau bế tắc, xã hội đầy rẫy những tiêu cực.

2. Hoa Nghiêm Tam Thánh và Bộ tượng Tuyết Sơn

Hàng ngang tiếp theo là bộ Hoa Nghiêm Tam Thánh, bao gồm đức Thích Ca Mầu Ni Phật ngồi giữa, trợ thủ hai bên là hai vị Bồ Tát Văn Thù và Phổ Hiền. Tượng Thích Ca ở ban này thông thường được gọi là tượng Hoa Nghiêm. Ngài ngồi kiết già trên đài sen, tay trái kết ấn tam muội, tay phải giơ bông sen lên. Nhìn vào nốt đục nốt chạm ấy, người xưa như muốn nhắn nhủ người Phật tử: Đến chùa là để tìm lại chính mình, tìm cái bản thể chân như và cái Phật tâm ẩn tàng tận đáy tâm hồn vốn đang bị dục vọng cuộc đời che phủ. Bông sen ấy là biểu hiện của đạo pháp tròn đầy, của sự trong sáng cùng cực, là sự thống nhất giữa nhân và quả, lý và trí, âm và dương, phàm và thánh… đều chung một cội nguồn. Nó chứng minh vẻ đẹp thánh thiện vốn có sẵn trong tâm mỗi chúng sinh, chỉ cần vén sạch đám mây mù ngu tối thì chân lý tự nhiên sẽ hé mở.

Trợ thủ cho Phật là Văn Thù Bồ Tát ngồi bên trái, nhiều khi được tạc cưỡi trên lưng con sư tử xanh, biểu hiện cho chân trí tuyệt đối của đạo Phật. Ngài tu tại Ngũ Đài Sơn (Trung Hoa), là hiện thân của trí tuệ, còn con sư tử Ngài cưỡi biểu trưng cho sức mạnh tầng trên và sự trong sáng. Bên phải là Phổ Hiền Bồ Tát thường cưỡi voi trắng, Ngài là hiện thân cho chân lý tuyệt đối, con voi trắng biểu hiện cho sức mạnh trần gian và sự thanh bạch, trong sáng.

Nhiều khi ở hàng này, người ta không thờ Hoa Nghiêm Tam Thánh mà thay bằng bộ tượng Tuyết Sơn. Ở giữa là tượng Đức Thích Ca Mầu Ni dưới dạng tu khổ hạnh. Từng nhát đục của thợ xưa gọt giũa nên một cơ thể gầy guộc, lộ rõ gân cốt, nét mặt đầy vẻ dày vò, chân khoanh chân chống, hai tay buông hững hờ tì trên gối. Đôi mắt tượng nhìn vào khoảng không như nhìn sâu vào tâm để tìm chân lý, nhưng chân lý ấy lại quá xa vời với kiếp tu khổ hạnh. Tích truyện kể lại, cách tu này không đem lại thành công, Ngài bỏ xuống núi, uống bát sữa do cô gái chăn bò dâng tặng, tắm rửa sạch sẽ rồi ngồi thiền định dưới gốc bồ đề mà đạt đạo chính đẳng chính giác. Qua pho tượng Tuyết Sơn, người xưa muốn giáo dục người tu hành không nên bám chấp vào hình thức tu khổ hạnh mà cần tập trung vào thiền định, nâng cao trí tuệ để giải thoát – một biểu hiện sâu sắc về ý nghĩa vô chấp.

Thị giả hai bên tượng Tuyết Sơn là hai đệ tử thân thiết của Đức Phật: tượng Ca Diếp (vị tổ thứ nhất) già nua, mặt nhiều nếp nhăn, tay kết ấn “mật phùng” để giữ tâm thanh tịnh, lòng không loạn; và tượng A Nan Đà (vị tổ thứ hai, em họ Phật) có khuôn mặt trẻ trung, thông minh, tay kết ấn “liên hoa” chắp trước ngực như bông sen của Phật Hoa Nghiêm.

Bộ tượng Di Lặc Tam Tôn và Tượng Cửu Long Thích Ca sơ sinh

1. Di Lặc Tam Tôn

Thường ngồi ở hàng thứ tư trên chính điện là bộ Di Lặc Tam Tôn. Thông thường người ta chỉ bày một pho Phật Di Lặc, nếu đầy đủ thì có thêm hai vị Bồ Tát là Pháp Hoa Lâm và Đại Diệu Tường. Ý nghĩa của ban này tập trung vào pho Di Lặc: một pho tượng béo tốt, mặt tròn xoe, ngực sệ bụng phệ, chân tay ngắn ngủn, ngồi tư thế một chân co một chân chống. Thân hình trù phú này bắt nguồn từ ước vọng cầu phồn thực trong tư duy nông nghiệp của người mình. Còn dưới góc nhìn Phật giáo, nụ cười hớn hở trên gương mặt Ngài sinh ra từ đại tâm, từ lòng hỉ xả. Phật Di Lặc được gọi là đấng Từ Tôn, là chúa cứu thế với niềm tin “Di Lặc xuất thế thiên hạ thái bình”. Khi xã hội nhiều nhiễu nhương, khổ đau, người ta thường cầu viện tới Ngài. Di Lặc cũng là chủ của “Long Hoa Hải Hội”, chính phái Long Hoa thờ Ngài làm giáo chủ, nhưng phái này xưa nay cũng thường bị những kẻ hoạt đầu tôn giáo lợi dụng.

2. Tượng Cửu Long Thích Ca sơ sinh

Tượng này thường đứng ở hàng thứ năm trên chính điện. Đôi khi hàng này lại đặt tượng Ngọc Hoàng cùng hai vị Nam Tào, Bắc Đẩu, khi đó Thích Ca sơ sinh sẽ được chuyển xuống hàng thứ sáu.

Theo hiểu biết của giới nghề, tượng Thích Ca sơ sinh sớm nhất mới chỉ thấy từ thế kỷ XVI (ở chùa chợ Bần, Hưng Yên) nhưng chưa tìm được vành Cửu Long thời này. Tượng tạc hình một chú bé ngộ nghĩnh, ngây thơ, cổ rụt lưng gù, đầu đưa ra phía trước tạo nên một vẻ đẹp đầy đột ngột. Trước thế kỷ XX, hầu hết tượng đều được tạc cởi trần, mặc váy cũn cỡn đứng trên đài sen, tay trái chỉ trời, tay phải chỉ đất theo lẽ cân bằng âm dương.

Pho tượng này là lời tuyên ngôn gắn liền với Phật thoại: khi lọt lòng, Ngài bước đi bảy bước trên bảy bông sen – con số 7 tượng trưng cho số nhiều trong văn hóa Ấn Độ và Đông Nam Á, ý nói Đức Phật bước vào toàn cõi vũ trụ để đem hạnh phúc đến cho chúng sinh. Ngài chỉ tay lên trời xuống đất mà tuyên bố: “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn” (Trên trời dưới trời chỉ có ta là cao quý hơn cả). Chữ “ta” ở đây là cái đại ngã trường tồn, là bản thể chân như ẩn tàng trong tâm thánh thiện của muôn vạn chúng sinh, đối lập hoàn toàn với cái tôi ích kỷ trong thế giới vô thường.

Khi Ngài xuất thế, vua trời Phạm Thiên và Đế Thích vui mừng cho thiên thần tung hoa ca múa, tạo nên một bầu trời đầy nhân vật thiên quốc bao quanh đức Thích Ca. Đến thế kỷ XVII, bầu trời này được thợ mình hình tượng hóa thành vành Cửu Long – số 9 biểu thị cho số nhiều của vùng Hoa Nam và Việt Nam, chín con rồng phun nước thiêng tẩy trừ uế trọc cho Đức Phật. Ngày nay, do ý nghĩa khởi nguyên bị suy lạc nên trên vành cửu long thường điểm xuyết thêm một hệ thống tượng Phật thu nhỏ. Nhiều chùa bày thêm hai tượng dạng vua khá lớn đứng hai bên là Phạm Thiên và Đế Thích để tạo thành bộ tượng đầy đủ.

Hai pho tượng Quan Âm nơi góc Thượng điện

Trong gian thượng điện, ở hai góc phía sau thường đặt hai loại tượng Quan Âm. Ban thờ bên trái là Quan Âm Nam Hải dưới dạng “thiên thủ thiên nhãn” (ngàn tay ngàn mắt), ban thờ bên phải là Quan Âm Tống Tử (hay còn gọi là Quan Âm Tọa Sơn).

Vị Quan Âm thiên thủ thiên nhãn đôi khi được đưa ra ngồi ở trung tâm chính điện. Cách bài trí này gắn liền với sự phát triển của thương mại, thậm chí yếu tố giao thương mạnh đến mức tạo nên những ngôi chùa Quan Âm chuyên biệt đặt ở ven các dòng sông. Hình tượng này có cứ liệu chắc chắn từ thời Nguyên (thế kỷ XIII) bên Trung Quốc, còn ở đất Việt, Ngài xuất hiện phổ biến từ khoảng giữa thế kỷ XVI, trùng với thời kỳ nền thương mại nước mình đang trên đà phát triển mạnh.

Còn Quan Âm Tọa Sơn lại là hình ảnh mộc mạc của một bà mẹ Việt Nam bế đứa bé ngồi trên núi. Bên phải ngang vai có con vẹt đứng canh, bên trái thấp hơn đặt lọ nước cam lồ. Đứa bé ở đây chính là hiện thân của chúng sinh đau khổ được Ngài cứu vớt, đại diện cho lòng từ bi qua tên gọi Quan Âm Tống Tử. Thị giả theo Ngài có Kim Đồng và Ngọc Nữ. Tượng Quan Âm Tọa Sơn có niên đại chắc chắn vào khoảng đầu thế kỷ XVII.

Từ hình tượng này, dân gian hóa dần thành câu chuyện Thị Kính quen thuộc. Cũng có ý kiến cho rằng Ngài vốn là bà mẹ Đất được Phật giáo hóa, bắt nguồn từ câu chuyện về anh hùng văn hóa Ma-ui của người Maori ở châu Đại Dương (chuyện chui vào tử cung mẹ Đất ngủ quên để tìm sự bất tử cho loài người nhưng bị tiếng cười của con vẹt làm thức giấc, khiến Ma-ui bị kẹp chết). Sự hiện diện của hai pho Quan Âm này phản ánh thực tế song song tồn tại của hai nền kinh tế cổ truyền: nông nghiệp và thương mại trong nhận thức của người Việt từ thế kỷ XVI – XVII về sau.

Bộ Thập Điện Diêm Vương, Địa Tạng Bồ Tát và Thổ Địa

Đặt ở hai bên sườn của thượng điện là bộ Thập Điện Diêm Vương, ban tượng xuất hiện ở hầu hết mọi ngôi chùa Việt. Ở những chùa lớn, người ta có thể thay bằng các động phủ đắp nổi đầy rẫy nhân vật của cõi âm ty (Diêm Vương, Phán Quan, quỷ đầu trâu mặt ngựa, tội nhân, cảnh tra khảo…).

Bộ thập điện phổ biến thường chỉ xuất hiện vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX (chùa Bút Tháp có bộ Diêm Vương không đầy đủ với niên đại sớm nhất vào thế kỷ XVIII). Mười vị gồm: Tần Quảng Vương, Sở Giang Vương, Tống Đế Vương, Ngũ Quan Vương, Diêm La Vương, Thái Sơn Vương, Biến Thành Vương, Bình Đẳng Vương, Đô Thị Vương và Chuyển Luân Vương. Tất cả đều mặc long bào, đội mũ bình thiên giống lối phục trang của nhà vua. Các Ngài giữ chức năng xét xử công tội của con người khi còn sống để thưởng phạt theo luật luân hồi, hướng con người ta lánh ác làm lành. Thực tế, hệ tượng này chỉ được đưa vào chùa nhiều khi xã hội gặp cảnh nhiễu nhương, tiêu cực, như một chứng tích tố cáo sự xuống cấp của xã hội thời Nguyễn và thời thuộc Pháp.

Phía ngoài, bên cạnh 5 pho Diêm Vương bên trái là tượng Địa Tạng Bồ Tát có kích thước tương đương, đầu đội mũ tỳ lư, mặc áo cà sa, Ngài mang lời nguyện chưa về cõi Phật khi chưa cứu độ hết chúng sinh nơi âm phủ. Đối xứng bên phải hàng Diêm Vương là tượng một ông già râu trắng mày trắng mặc phục trang quan lại, chính là vị Thổ Địa cai quản đất đai của khu vực nhà chùa.

Hệ tượng Kim Cương (Hộ Pháp) bảo vệ chốn thiền môn

Các vị Kim Cương mang hình thức võ tướng oai phong, đầu đội mũ kim khôi. Đỉnh mũ của vị Khuyến Thiện có chiếc lá sen úp đội bình nước cam lồ, còn vị Trừng Ác đội chiếc giản có một hoặc ba mũi. Tượng được tạc với vóc dáng to lớn quá cỡ để biểu hiện sức mạnh siêu nhiên, chân đi “vân xảo”. Áo giáp của tượng chạm khắc nhiều hoa văn đại diện cho sức mạnh và hạnh phúc của nền nông nghiệp, áo này còn gọi là áo giáp nhẫn nhục giúp chống lại các dục vọng tham, sân, si, ái, ố, hỉ, nộ. Giữ được tâm kiên định, trong sáng như kim cương nên gọi là tượng Kim Cương, giữ chức năng bảo vệ Phật pháp nên gọi là tượng Hộ Pháp. Vị Khuyến Thiện mặt hiền từ sơn màu hồng phấn, vị Trừng Ác mặt đỏ dữ tợn, tay cầm pháp khí như pháp giới đao, pháp giới chùy.

Chùa Việt mình thường có hai hệ tượng Kim Cương: Hệ thứ nhất là Bát Bộ Kim Cương (đầy đủ nhất từ cuối thế kỷ XVIII) gồm Thanh Trì Tai, Tích Độc Thần, Hoàng Tùy Cầu, Bạch Tịnh Thủy, Xích Thanh Hỏa, Đinh Trì Tai, Tử Hiển, Đại Lực Thần. Hệ thứ hai thông thường chỉ gồm hai vị Khuyến Thiện và Trừng Ác được đắp bằng đất với kích thước rất lớn, ngồi trên lưng con lân, thể hiện tư thế dựa vào trí tuệ để hành đạo.

Tượng Đức Ông và Tượng Thánh Tăng ở tòa Tiền đường

1. Bàn thờ Đức Ông

Hệ tượng này mới xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX về sau, tạc hình một vị quan văn đội mũ cánh chuồn, mặt đỏ, ngồi buông chân trên bệ. Hai bên có thể có hai vị trợ tá nhỏ hơn là Già Lam và Chân Tể. Đức Ông chính là ngài Cấp Cô Độc, một trưởng giả giàu lòng từ tâm, hay giúp đỡ người cô độc. Ngài giác ngộ khi nghe Phật giảng đạo, tự mình bỏ tiền mua lại khu vườn của thái tử Kỳ Đà để dâng cúng cho Phật. Đức Thích Ca tán thán lòng thành và giao cho ngài cai quản toàn bộ cảnh chùa chốn thế gian. Vì vậy, ban thờ Đức Ông luôn đặt ở phía bên trái – nơi khách hành hương tiếp cận đầu tiên khi vào chùa lễ Phật theo chiều quay của chữ Vạn. Lễ Ngài là một hình thức “kính báo”, xin phép trước khi vào đảnh lễ chư Phật.

2. Bàn thờ Thánh Tăng

Đặt đối xứng với ban Đức Ông ở phía bên phải tòa tiền đường là tượng Thánh Tăng, tạc hình một nhà sư đội mũ tỳ lư thất Phật, ngồi buông chân, tay trái cầm chén nước cam lồ, tay phải ở tư thế thuyết pháp. Người tu hành Việt Nam coi Thánh Tăng là ngài A Nan Đa – đại diện cho toàn thể sư sãi mọi thời đại (Tăng là một trong Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng). Trợ thủ cho Ngài có Diệm Nhiên và Đại Sĩ để lo việc giáo hóa chúng sinh ở cõi nhân gian và cõi bên dưới.

Tượng Tổ Truyền Đăng và các hệ tượng Hậu, tượng Tổ chùa

Tượng Tổ Truyền Đăng (mà dân gian mình hay gọi nhầm là Thập Bát La Hán) gồm 18 vị tổ nối nhau truyền đăng tục diệm của Phật giáo Ấn Độ sang phương Đông, tiêu biểu như Ca Diếp, A Nan Đà, Thương Na Hòa Tu, Đề Đa Ca, Bà Tu Mật, Phật Đa Nan Đề, Phục Đà Mật Đa, Hiếp Tôn Giả, Mã Minh, Ca Tỳ Ma La, Long Thụ Tôn Giả, La Hầu La Đa, Tăng Già Nan Để, Già Da Đa Sá, Cưu Ma La Đa, Xà Dạ Đa, Bát Nhã Đa La và Bồ Đề Đạt Ma. Sở dĩ không lấy liên tục 18 vị đầu tiên trong sử Phật giáo là vì các vị này đại diện được cho mọi thành phần xã hội và nói lên các bước phát triển cốt lõi của đạo Phật.

Bộ Tổ Truyền Đăng đầy đủ và sớm nhất nước mình hiện nay nằm ở chùa Tây Phương. Từng khuôn mặt được đục chạm vô cùng chuẩn mực, lột tả sự kết hợp tài tình giữa tinh thần đạo và đời, khiến ai nhìn vào cũng xúc động. Nhiều người coi đây là sản phẩm thuần Việt, nhưng thực tế hình dáng các vị không xa cách mấy so với bản vẽ trong sách Thiền Uyển Kế Đăng Lục (chùa Quán Sứ) hay các hình khắc trên tháp quay chùa Bút Tháp (Bắc Ninh) từ giữa thế kỷ XVII.

Bên cạnh các ban thờ cơ bản, từ thế kỷ XVI (chùa Trà Phương, Hải Phòng) và thế kỷ XVII (chùa Phổ Minh, chùa Thầy), khi kinh tế tư nhân phát triển, trong chùa bắt đầu xuất hiện tượng Hậu chùa (thờ những người có công đức xây dựng chùa, tương tự như ở đền). Tượng Tổ chùa cũng dần hình thành để thờ các vị sư tổ nối nhau trụ trì qua các đời tại chính ngôi chùa đó. Vì mang tính chất chân dung nên mỗi pho tượng Tổ chùa có một gương mặt riêng rất sinh động, dẫu thợ tạc vẫn điểm xuyết thêm đôi tai lớn hơn bình thường hoặc nét mặt trầm tư để hợp với tinh thần nhà Phật. Đặc biệt, trong khuôn viên chùa làng Việt từ thế kỷ XVII và phổ biến vào thế kỷ XIX luôn có thêm điện thờ Mẫu – một sự dung hòa tín ngưỡng bản địa đặc trưng.

Vài nhận xét về nghệ thuật tạo hình của người thợ xưa

Là người trực tiếp cầm đục, tôi đúc rút ra mấy điểm chung nhất mà cha ông mình gửi gắm vào nét tạc tượng Phật giáo Việt:

  • Màu sắc da mặt: Các vị Phật và một số Bồ Tát có khuôn mặt sơn màu tử kim (vàng ròng) để biểu thị việc đã đạt đạo quả cao, nhập về miền thường trụ vĩnh hằng. Một số vị khác lại có gương mặt màu hồng phấn, mang ý nghĩa Ngài vẫn đang lặn lộn giữa cuộc đời vô thường để cứu vớt chúng sinh đau khổ.
  • Dáng chân trần: Hầu như toàn bộ tượng Phật và Bồ Tát đều được tạc chân trần, biểu hiện cho đức đại từ bi, để mỗi bước đi của các Ngài tránh giẫm đạp làm tổn thương những sinh vật bé nhỏ dưới đất.
  • Kiểu tóc và dáng ngồi: Trừ tượng Di Lặc và Dược Sư, tất cả tượng Phật Việt Nam đều có tóc kết cuộn hình ốc, trên đầu có bướu nhục kháo (unisa) – biểu tượng của trí tuệ giác ngộ và sự siêu thoát. Các Ngài luôn ngồi ở hàng chính giữa ban thờ, riêng bộ Tam Thế thì dàn hàng ngang. Trong khi đó, các vị Bồ Tát thường vén tóc lên đỉnh, bao bằng thiên quan (lối kết hợp mũ và khăn thời thế kỷ XVI – XVII), hoặc đội mũ tỳ lư. Điểm tinh túy nhất của tượng Bồ Tát nằm ở đôi tay với các dáng kết ấn như ấn Liên Hoa, ấn Mật Phùng, ấn Vô Úy, ấn Gia Trì Bổn Tôn, ấn Tam Muội, ấn Cam Lồ, ấn Chuẩn Đề, ấn Thuyết Pháp, ấn Cứu Độ… lột tả trọn vẹn đức trí tuệ và lòng từ bi của Phật đạo.

 

Bản quyền nội dung thuộc về dòng chảy di sản mỹ thuật Phật giáo Việt Nam.