Tiến trình diễn biến của các tượng thờ Phật giáo bấm đốt ngón tay, những anh em làm nghề đục chạm, tạc tượng tâm linh như chúng tôi mỗi lần bước chân vào Phật điện của các ngôi chùa vùng châu thổ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đều không khỏi trầm trồ trước hệ thống tượng thờ dày đặc, uy nghiêm. Nhưng có đi sâu vào sử sách, có ngược dòng thời gian về thiên niên kỷ thứ hai – tính từ thời kỳ tự chủ của nước mình – mới hiểu được rằng để có được quy mô bề thế như hôm nay, Phật điện Việt đã trải qua cả một hành trình dài thay đổi, thăng trầm.
Nói về nhang án thời Lý, anh em làm nghề chúng tôi tiếc nuối vô cùng khi cho đến nay hầu như chẳng còn tìm thấy mảnh gỗ nào mang vết tích văn hóa nghệ thuật thời kỳ này. Ngay cả nhang án đá cũng bị đập vỡ gần như hoàn toàn. Mảnh nhang án đá lớn nhất hiện nằm ở Bảo tàng Lịch sử tuy khá lớn nhưng cũng chỉ đủ cho ta nhận ra phần trên có đài sen, có hoa văn cách điệu gắn với lực lượng tự nhiên và hình ảnh thần điểu Garuđa ngồi quặt chân về một phía đầy mềm mại như một chú bé. Bấy nhiêu chi tiết quả thực chưa đủ để dựng lại vẹn tròn một chiếc nhang án đá thời Lý. Đi kèm với kiến trúc thời này, người ta còn tìm thấy những trụ đá với ít nhất hai loại khác nhau.
Khoảng lặng thời Trần và những chiếc “Thạch bàn” ẩn mình (Thế kỷ XIII – XIV)
Đến thời Trần, sách sử tuy ghi chép rằng triều đình và dân chúng tạc nhiều tượng Phật, nhưng ngặt một nỗi, giới khảo cổ và thợ nghề đến nay chưa xác nhận được một pho tượng cụ thể nào. Cái hay và cũng là cái khó của thời này là tượng đa phần làm bằng chất liệu gỗ, qua mấy trăm năm dâu bể đã không còn giữ được.
Nhưng sâu xa hơn, cốt lõi nằm ở chính tư duy Phật đạo thời Trần. Khi tầng lớp trên tu theo lối “xuất thế gian”, đề cao yếu nghĩa vô chấp (như Tuệ Trung Thượng sĩ), họ hướng sâu vào thâm định, hướng tới “Niết bàn vô trụ xứ” với tư duy sinh hoạt tư tưởng ở mức rất cao. Khi tâm đã đạt đến độ không bám chấp vào tướng, người ta cũng ít quan tâm đến việc tạo tác tượng thờ.
Bởi thế, ở các ngôi chùa cổ dọc ven sông Đáy, di sản thời Trần để lại chủ yếu là những chiếc nhang án bằng đá hình hộp chữ nhật đặt sát phía trong của gian giữa. Người đời sau thường nhầm gọi đây là bệ Tam thế Phật, nhưng khi đọc kỹ minh văn khắc trên hiện vật (như ở chùa Bối Khê, Hà Tây), hai chữ “thạch bàn” đã khẳng định rõ đây là nhang án đá.
Chi tiết này đặt ra hai giả thuyết khiến người làm nghề phải suy ngẫm: một là tượng Phật được đặt trực tiếp lên nhang án (dù việc này hiếm thấy ở các đời sau); hai là nhiều ngôi chùa làng thời bấy giờ hoàn toàn không có tượng. Điều này khá tương đồng với kết cấu chùa cổ của người Mường ở Hòa Bình mà chúng tôi từng khảo sát – những ngôi nhà lá nhỏ một gian hai chái, gian giữa sát vách sau chỉ đặt một nhang án gỗ đơn sơ, treo bức tranh vẽ chữ Phật hoặc hình Phật lớn chứ không hề có tượng đúc, tượng tạc.
Sự kế thừa lặng lẽ ở thế kỷ XV
Bước sang thế kỷ XV, kiến trúc chùa chiền ở làng quê gần như không phát triển. Nhìn vào những nét chạm trổ trên các nhang án đá còn sót lại (dù không ghi niên đại), chúng ta có thể đưa ra giả định rằng nhiều ngôi chùa đương thời vẫn giữ nguyên lối thờ tự từ thời Trần. Cho đến nay, giới nghề mới chỉ tìm thấy duy nhất một chiếc nhang án đá nửa đầu thế kỷ XV ở thị xã Bắc Giang, còn hệ thống tượng đá thời kỳ này thì cũng giống như thời Trần, vẫn chưa thể xác định rõ ràng.
Thời Mạc và bước chuyển mình đa dạng ở thế kỷ XVI
Phải đợi đến thế kỷ XVI, dưới thời nhà Mạc, dẫu kết cấu kiến trúc ngôi chùa chưa mở rộng nhưng hệ thống tượng thờ đã bắt đầu có sự phân hóa, nở rộ rõ nét. Từ những ngôi chùa trung thành với truyền thống chỉ thờ Thích Ca Mầu Ni Phật như ở chùa La Khê (thị xã Hà Đông), Phật điện đã đón nhận thêm bộ tượng Tam Thế Phật như ở chùa Thầy (Quốc Oai, Hà Tây).
Đặc biệt, thời kỳ này chứng kiến sự phổ biến của tượng Bồ Tát Quan Âm nhiều tay ngồi trên đài sen do quỷ hoặc rồng đội, minh chứng rõ nhất tại chùa Bối Khê (Thanh Oai, Hà Tây), chùa Thượng Trưng và chùa Hội Hạ (Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc). Không dừng lại ở đó, thợ tạc tượng thời Mạc còn cho ra đời tượng Ngọc Hoàng (chùa Ngô Sơn, Tích Giang, Ba Vì, Hà Tây) và một vài pho tượng Thích Ca sơ sinh. Sự phát triển kinh tế, tư tưởng xã hội mở rộng cùng những ảnh hưởng từ Phật giáo Trung Hoa đã giúp cái nhìn về đạo Phật thời Mạc trở nên khoáng đạt, phong phú hơn nhiều.
Sự bùng nổ của đồ thờ nhân cách hóa ở thế kỷ XVII – XVIII
Đến thế kỷ XVII, số lượng tượng thờ nhân cách hóa trong chùa tăng lên đông đảo. Đi qua các chùa, ngoài những dáng tượng từ thời Mạc, người ta bắt đầu thấy xuất hiện bộ tượng Di Đà Tam Tôn rồi Hoa Nghiêm Tam Thánh. Từ giữa thế kỷ XVII trở đi hệ thống này tiếp tục được mở rộng với tượng Di Đà Phát Quang, Tứ Bồ Tát, rồi các pho tượng sư tổ và tượng hậu gắn với tầng lớp quý tộc, có công đức với nhà chùa.
Sang thế kỷ XVIII, nhất là giai đoạn cuối thời Tây Sơn, hệ thống tượng trên Phật điện đã đi vào độ hoàn thiện, đầy đủ. Bên cạnh những pho tượng có từ thế kỷ trước, người thợ xưa đã tạc thêm bộ tượng Di Lặc tam tôn mang tinh thần của đấng cứu thế, bộ Bát Bộ Kim Cương vững chãi, cùng các pho Tổ Truyền Đăng mà dân gian ta vẫn hay gọi nhầm là Thập Bát La Hán.
Hoàn thiện trọn vẹn cấu trúc Phật điện ở thế kỷ XIX – XX
Mãi đến thế kỷ XIX, cụ thể là từ đời vua Tự Đức trở về sau và kéo dài sang tận đầu thế kỷ XX, hệ thống tượng chùa mới đạt đến độ toàn vẹn, mãn nhãn như chúng ta chứng kiến ngày nay.
Nền tảng từ thế kỷ XVIII được giữ vững, đồng thời tiếp nhận thêm sự xuất hiện phổ biến của bộ tượng Thập Điện Diêm Vương, bộ tượng Đức Ông, Thánh Tăng, tượng Địa Tạng Bồ Tát, Thổ Địa, tổ chùa, và đặc biệt là không thể thiếu hệ thống tượng Mẫu – một nét dung hòa đức tin rất riêng, rất đời của người Việt mình.Bản quyền nội dung thuộc về dòng chảy lịch sử di sản Phật giáo Việt Nam.
