Lọng, tàn, tán hay bảo cái nói chung là những khí vật được sử dụng nhằm mục đích tôn vinh vị thế thiêng liêng của thần linh, xuất hiện phổ biến trong các nghi thức rước xách. Đối với các thể chế xã hội có sự phân chia giai cấp và chịu tác động từ luồng văn hóa Trung Hoa, lọng, tàn, tán vốn là vật dụng dành riêng để che chắn cho bậc đế vương cùng hàng ngũ quan lại. Tùy thuộc vào phẩm hàm, phẩm trật khác nhau mà mỗi vị quan sẽ được quy định số lượng sử dụng nhiều hay ít hoặc sắc màu có sự phân biệt. Đối với các vị thần, dựa vào thứ bậc thượng đẳng hay trung đẳng mà triều đình sẽ ban ban cấp các loại lọng mang sắc vàng hoặc sắc tía khác nhau.
Trong không gian Phật giáo, chiếc lọng báu tôn kính còn có tên gọi là bảo cái, được dùng để thờ phụng chư Phật, chư vị Bồ Tát hoặc dùng để che chắn cho các vị hòa thượng thượng tọa. Những chiếc lọng quý báu này thường được chế tác từ thất bảo nên còn được gọi là lọng của Phật. Chính nhờ việc được kết tạo từ những chất liệu trân quý phục vụ cho việc thờ cúng Phật và Bồ Tát nên danh xưng bảo cái mới hình thành.
Xét theo nhân sinh quan phổ quát của cư dân châu Á, chiếc lọng là hình ảnh biểu trưng cho vòm trời, đồng thời cũng là vật đại diện cho đấng quân vương. Khởi thủy từ ý niệm cho rằng vị vua trị vì toàn thiên hạ luôn ngự ở vị trí trung tâm của bánh xe vũ trụ, bậc thiên tử được đồng nhất với trục đứng của không gian, mà phần cán lọng chính là biểu tượng của trục này, còn phần mái tán xòe rộng phía trên đại diện cho vòm trời tròn. Mang trong mình những tầng nghĩa sâu sắc đó, chiếc lọng vừa chứa đựng các yếu tố tâm linh huyền bí, vừa là minh chứng cho quyền lực tối thượng. Tại các công trình kiến trúc tín ngưỡng của người Việt, lọng thờ thường có kích thước lớn ngang chiếc nia, mở rộng tương tự như một chiếc ô lớn với đường kính dao động từ 1,2m đến 1,5m. Bên dưới những chiếc lọng vàng, người xưa thường bài trí các chùm gù nhiều màu sắc rủ xuống quanh trục nhằm làm đẹp thêm nơi ngự của thần, đồng thời tăng tính trang trọng, lộng lẫy cho đoàn rước. Những chiếc lọng có kích thước nhỏ hơn nhưng lại được quây kín bằng lớp vải đỏ tạo thành hình trụ cao xấp xỉ 1m thì được gọi là tàn. Phần thân của tàn được phân chia thành nhiều dải dọc để thêu các loài linh thú cùng cỏ hoa thiên giới, thông thường gồm từ 3 đến 5 dải với dải ở giữa có kích thước lớn nhất. Một dạng thức khác có cấu tạo tương tự nhưng chiều dài ngắn hơn thì được dân gian gọi là tán. Nhìn nhận ở một góc độ nhất định, tàn và tán ngoài công năng tôn vinh thần linh thì các đề tài thêu trên mặt vải còn gửi gắm những khát vọng về sự sinh sôi, nảy nở cùng ý thức cầu mong phồn thực của người xưa.
Thông thường, khu vực bàn thờ chính và không gian xung quanh tại các di tích đều được sắp xếp các hiện vật kể trên. Chắc chắn trong dòng chảy của quá khứ, còn có rất nhiều loại đồ thờ liên quan khác tồn tại nhưng đến nay đã gần như bị thất truyền. Có thể cử ra ví dụ về chiếc “áp quả” thuộc thế kỷ XVII, hiện vật hiếm hoi mới chỉ tìm thấy được tại ngôi đình Giẽ Thượng thuộc địa phận Phú Xuyên. Cổ vật này bao gồm một phần nắp dáng hình trụ có chiều cao trên 40 cm, với phần núm ở chính giữa đỉnh tạo hình một nụ sen, phần đế bên dưới được làm theo kiểu chân quỳ tương tự như đế ngai nhưng lại cấu tạo theo hình tròn. Hệ thống họa tiết đao mác, các dải mây cuộn cùng hoa cúc cách điệu trên thân đã giúp xác định chính xác niên đại thế kỷ XVII của hiện vật. Chiếc hộp áp quả này vốn được dùng để cất giữ những vật linh thiêng của thần, chẳng hạn như mũ trụ hoặc các món đồ mật thiết khác mà con người ngày nay ít ai còn biết rõ. Ở một số địa phương khác, các chiếc áp quả có niên đại muộn hơn do chức năng nguyên bản ban đầu bị suy lạc nên đã bị người dân gọi chệch đi thành hộp hương.
Tại khá nhiều di tích đình và đền cổ, chúng ta còn thấy sự xuất hiện của những chiếc quán tẩy, một loại cổ vật mà ngày nay không còn được chú ý nhiều. Các hiện vật này được đục chạm vô cùng tinh xảo theo các kỹ thuật chạm bong, chạm kênh và chạm lộng. Chiều cao thông thường của quán tẩy dao động từ 1m cho đến gần 1,5m. Đề tài trang trí trung tâm của hiện vật này thường là hình ảnh một con rồng trúc uốn lượn chạy từ phía trên xuống, sau đó ngóc đầu lên theo tư thế như đang nhả nước vào lòng một chiếc đĩa. Trên thân cây trúc ấy, người thợ xưa còn đan cài thêm các loài linh thú khác như chim phượng ở vị trí trên cùng, tiếp đến là lân, rùa và trong nhiều trường hợp có cả họa tiết hồ sen.
Các linh vật mang tư cách đồ thờ
Tại ngôi chùa Phật Tích (thuộc thời Lý) được khởi dựng vào năm 1056, người thời bấy giờ đã cho tạc bộ tượng 5 đôi thú bằng chất liệu đá với kích thước tương đối lớn. Mở đầu hàng tượng là đôi lân trong tư thế ngồi hướng mặt vào nhau, tiếp theo lần lượt là các cặp voi, trâu, tê giác và ngựa. Vào thời điểm khởi nguyên, có lẽ những con thú này chỉ đóng vai trò như các biểu tượng mang một tầng nghĩa nhất định nào đó. Tuy nhiên về sau, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, chúng đã được hóa thân để mang tư cách của những vật thờ tự đích thực. Cặp lân hướng mặt nhìn vào nhau biểu trưng cho sức mạnh của tầng trên, đại diện cho trí tuệ cùng sự thông tuệ trong sáng, nắm giữ công năng kiểm soát thế giới tâm hồn của khách hành hương. Con voi, ở một góc độ giới hạn, là hình ảnh đại diện cho sức mạnh thế gian, cho sự thanh bạch nhằm biểu thị cho chân lý cao cả của Phật pháp. Hình ảnh con trâu dễ khiến người ta liên tưởng tới bức tranh thập mục ngưu đồ, nói lên tinh thần tinh tiến, nỗ lực trên con đường tu tập, mặt khác trâu cũng là biểu tượng tiêu biểu cho công hạnh Bồ Tát. Con tê giác là đại diện cho sức mạnh của thế giới bên dưới với tâm nguyện cứu vớt chúng sinh đang chìm đắm trong bể khổ, cũng có người cho rằng chiếc sừng tê giác mang đặc tính như sừng lân để biểu thị cho lòng từ tâm. Con ngựa là biểu tượng của ánh sáng và niềm hạnh phúc, bởi sinh vật này nắm giữ trọng trách chở che kinh Phật đi giáo hóa chúng sinh theo một nghĩa cao đẹp. Mặc dù vậy, căn cứ vào phương pháp tạo hình thực tế, chúng ta nhận thấy toàn bộ cả 5 đôi linh thú nói trên đều được thể hiện trong tư thế nằm nghỉ ngơi trên những đài sen, điều này minh chứng rằng chúng đều đã đạt cảnh giới giải thoát, tự tại trong thế giới của nhà Phật. Điểm đặc biệt nằm ở chỗ, phía dưới đài sen của cả 10 linh vật này là một đường diềm chạm nổi hình các quái thú đầu sói, thân vượn, đuôi cáo. Hình tượng này có thể xem là có sự đồng nhất với một đề tài trang trí tương tự trong nền nghệ thuật Chăm (tuy nhiên hình tượng của người Việt có phần mềm mại hơn và sở hữu phần đuôi lông được chải chuốt).
Trong các giai đoạn lịch sử sau đó, các linh vật mang tính chất đồ thờ gắn liền với các ngôi chùa xuất hiện ít hơn, người ta chỉ còn bắt gặp hình tượng con lân (như ở chùa Thông – Thanh Hóa, thuộc niên đại thế kỷ XIV), hay hình tượng rồng… Bước sang thế kỷ XIV, phần lớn các linh vật thờ tự lại được gắn liền với không gian lăng mộ mà hiện nay chúng ta còn tìm thấy chứng tích tại Yên Sinh – Đông Triều (Quảng Ninh) và Thâm Động (Thái Bình) với các tượng trâu đá, chó đá hay hổ đá cũng đều trong tư thế nằm nghỉ ngơi.
Đến thế kỷ XV, tại các khu lăng mộ của các vua nhà Lê thường xuất hiện các tượng lân, ngựa, voi, hổ… Các linh vật này được chế tác với kích thước khá nhỏ, nhiều khi lại mang đậm phong cách dân gian. Điều này khiến giới nghiên cứu hoài nghi rằng chúng là những vật thờ chịu sự ràng buộc bởi một luồng tư duy cổ truyền (người xưa không dám làm tượng quá to lớn vì các bức tượng này được quan niệm là nơi trú ngụ của một linh hồn phục vụ cho kiếp sống đã qua của người quá cố, nếu làm kích thước khổng lồ sẽ dễ gây nên sự đe dọa đối với thế giới bên dưới).
Kể từ thế kỷ XVII trở về sau, các linh vật thờ tự thường được chế tác với kích thước tương đối lớn, đôi khi to hơn cả kích thước trong thực tế. Chúng ta dễ dàng bắt gặp các tượng voi, ngựa, lân, chó và nhiều khi là cả hổ. Xét ở một tầng nghĩa nào đó, các linh vật này đóng vai trò như những vật phẩm làm sang, tôn vinh cho người đã khuất và phụ thuộc trực tiếp vào chức tước của người đó, đồng thời đây cũng là cách để làm đẹp mặt cho những người đang sống.
Mặc dù vậy, những loài linh vật gắn bó trực tiếp và phổ biến nhất với hệ thống đồ thờ tự thường là chim phượng và chim hạc. Nếu như ở vương triều Lý, hình tượng phượng thờ chỉ xuất hiện gắn liền với hệ thống thành bậc cửa dưới dạng các bức phù điêu hoặc là đồ gốm trang trí trên mái nhà, thì từ thế kỷ XVII, chúng đã được tạo tác dưới dạng tượng tròn với kích thước khá lớn, cao trên dưới 2m. Một minh chứng tiêu biểu chính là đôi chim phượng bằng gỗ tại đình Phú Thượng (Tây Hồ – Hà Nội) sở hữu niên đại vào khoảng giữa thế kỷ XVII. Phượng là loài chim thần được cấu thành từ mỏ diều hâu, tóc chim trĩ, mắt giọt lệ, cổ rắn, vẩy cá chép, đuôi chim công và móng chim ưng… Người xưa tin rằng loài chim này là biểu tượng của các bậc thánh nhân, là hình ảnh thu nhỏ của vũ trụ với phần đầu đội trời và công lý, mắt đại diện cho mặt trời mặt trăng, phần lưng cõng cả bầu trời, đôi cánh là gió, đuôi là các vì tinh tú, lớp lông là cây cỏ và đôi chân là mặt đất. Chính vì vậy, mỗi khi chim phượng tung cánh bay cũng đồng nghĩa với việc vũ trụ đang vận động. Điều đó có nghĩa là phượng mang trong mình một nguồn sức mạnh siêu nhiên, khi đặt bên cạnh bàn thờ, nó sẽ đồng nhất hoặc có mối liên hệ mật thiết với bậc thánh nhân. Tại nhiều di tích, tượng phượng được tạc trong tư thế đứng cung kính trên một hồ sen mà các chi tiết lá sen, hoa, nụ hay cọng sen đều được tạo hình mang đậm tinh thần mộ đạo. Đôi khi, nơi miệng phượng còn ngậm một chiếc lá đề nhằm biểu trưng cho trí tuệ Phật giáo, với phần cuống lá đề được kết tạo thành các cụm vân xoắn để biểu thị quyền uy. Trong trường hợp này, người xem có cảm giác như chim phượng chính là một linh vật bước ra từ cõi Phật, loài chim thiêng biết dùng tiếng hót dịu hòa của mình để thuyết giảng về lẽ đạo. Hình tượng phượng ở đình Phú Thượng trên phần thân còn được điểm xuyết rất nhiều họa tiết đao mác, gợi nhắc đến hình ảnh một bầu trời đầy sấm sét mang lại những giọt mưa móc ngọt ngào cho trần gian sinh sôi.
Bên cạnh đó, ở vị trí hai bên bàn thờ tại các ngôi đền và ngôi đình cổ thường là sự hiện diện của những con hạc đứng trên lưng rùa. Pho tượng hạc bằng gỗ được phát hiện tại đình Dục Tú (Cổ Loa – Hà Nội) với niên đại xác định vào khoảng cuối thế kỷ XVII được ghi nhận là hình mẫu con hạc có niên đại sớm nhất từng được tìm thấy. Một tác phẩm hạc khác có tạo hình tương tự cũng được tìm thấy tại một ngôi đình thuộc địa phận Thường Tín. Bước sang thế kỷ XVIII, hạc thờ tiếp tục được làm bằng chất liệu gỗ với chiều cao trên dưới 2m, và đến giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã có thêm rất nhiều tượng hạc được đúc bằng đồng với kích thước to lớn không thua kém gì hạc gỗ.
Chim hạc sở hữu chiếc mỏ của loài cò, tóc chim trĩ, cổ cao, đuôi ngắn, vẩy cá chép, đôi cánh cấu tạo bằng lông vũ nhưng được điểm xuyết thêm các họa tiết đao mác, thường đứng vững chãi trên lưng rùa. Nhìn một cách tổng thể, hạc thờ của thế kỷ XVII và XVIII mang nhiều chi tiết được cách điệu hóa cao độ, trong khi hạc từ thế kỷ XIX trở về sau, ngoại trừ một vài nét chạm khắc ở phần đầu và lớp lông gáy, thì phom dáng cơ thể của chúng đã dần trở nên gần gũi với hình ảnh loài chim trong thực tế đời thực.
Với tư cách là một món đồ thờ tự, chim hạc thường đại diện cho tầng không gian phía trên, trong khi rùa đại diện cho tầng không gian phía dưới, sự kết hợp này tạo nên một thể âm dương đối đãi hài hòa. Nơi mỏ hạc thường ngậm một hạt tròn tượng trưng cho viên ngọc pháp (biểu trưng cho giáo lý sáng ngời như ngọc), đóng vai trò như một vật thiêng thể hiện năng lực giáo hóa chúng sinh cứu độ.
Ở khoảng không gian chính giữa đôi hạc, người ta thường sắp xếp một chiếc đỉnh đồng ba chân hoặc bốn chân. Chiếc đỉnh này thường sở hữu phần nắp tạo hình con lân, đôi khi là biểu tượng lân hí cầu với tư thế nhìn thẳng ra phía trước nhằm mục đích kiểm soát thế giới tâm hồn của người đến hành hương. Đỉnh thờ thường được dùng để đốt trầm hương, có cấu tạo hai tai mang hình rồng cuốn thủy hoặc hình hổ phù phun mây. Phần thân của đỉnh thông thường có dáng tròn đi kèm ba chân, với mỗi chiếc chân mô phỏng hình ảnh của một con quỳ – loài linh vật huyền thoại chỉ có một đầu và một chân mà người xưa quan niệm mỗi khi nó xuất hiện sẽ là điềm lành báo hiệu bậc thánh nhân xuất thế. Ngoài ra cũng có nhiều loại đỉnh cấu tạo bốn chân mang kiểu dáng hình vuông, tuy nhiên về mặt ý nghĩa tâm linh thì không có sự thay đổi. Trong nhiều trường hợp, nằm giữa hai con hạc là một chiếc đỉnh ba chân không có nắp đậy, khi đó hiện vật này mang tầng ý nghĩa biểu trưng cho bàn tròn thái cực. Đối với những nơi không bày trí chiếc đỉnh lớn, thì chiếc đỉnh nhỏ hoặc biểu tượng bàn tròn thái cực này sẽ được đặt trang trọng ngay trên bàn thờ chính ở vị trí phía sau bát hương. Vào giai đoạn cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, nhiều chiếc đỉnh thờ đã được biến thể sinh động dưới hình dáng một quả đào, hoặc được bổ sung thêm các chi tiết gắn liền với học thuyết Kinh Dịch như biểu tượng bát quái, đi kèm với họa tiết cây trúc quân tử và đôi khi có cả hoa mai nữa.
Tại một số công trình di tích gắn liền với Nho giáo (hoặc có sự tham gia xây dựng của các nhà Nho), các loài linh vật được đưa vào thờ tự thường là hình tượng rồng (bố trí ở bên trái) và hình tượng hổ (bố trí ở bên phải). Sự sắp xếp này nhằm biểu thị cho cảnh tượng tụ hội của hàng ngũ trí thức và nâng cao uy thế của vị thần, bởi lẽ rồng là biểu tượng cho học vị tiến sĩ còn hổ là vật đại diện cho học vị cử nhân (tạo nên điển tích long hổ hội). Trong nhiều không gian tín ngưỡng, hổ còn là hiện thân của sức mạnh trần thế nên thường đứng biệt lập một mình ngay trước cửa để làm nhiệm vụ canh gác cho thần linh. Cũng có khi hình tượng hổ được thể hiện với bố cục 5 con đại diện cho 5 phương hướng trong vũ trụ (hổ vàng ngự ở trung tâm, hổ xanh phương đông, hổ trắng phương tây, hổ đỏ phương nam và hổ đen phương bắc). Sự hội tụ này minh chứng cho nguồn sức mạnh của 5 phương thuộc thế giới trần gian và thế giới bên dưới đều đã quy thuận vị thần, mà phổ biến nhất là quy y dưới trướng của Thánh Mẫu nhằm giữ gìn sự bình yên, kiềm tỏa thế giới ma quỷ. Bố cục này thường được thấy rõ nhất tại bàn thờ thuộc hạ ban của tòa Thánh Mẫu Thượng Ngàn, hoặc đôi khi được bài trí ở một không gian riêng biệt, hay tại khu vực hạ ban của các vị thần linh khác.
