Tìm hiểu nghệ thuật kiệu thờ trong lễ hội cổ truyền Việt Nam

Tìm hiểu nghệ thuật kiệu thờ trong lễ hội cổ truyền Việt Nam, kiệu thờ hầu như chưa từng xuất hiện hay để lại dấu tích rõ ràng từ giai đoạn thời Mạc trở về trước. Cho đến nay, cỗ kiệu có niên đại sớm nhất được tìm thấy là cỗ kiệu bát cống tại chùa Bà Tề, thuộc địa bàn xã Liên Hiệp (Quốc Oai – Hà Tây cũ). Về sau này, cấu trúc tổng thể của những cỗ kiệu bát cống không có quá nhiều sự thay đổi, có chăng chỉ là những đường nét mỹ thuật trên thân kiệu được tạo tác để phù hợp với đặc trưng thẩm mỹ của từng thời kỳ sinh ra nó. Trong văn hóa truyền thống có nhiều loại kiệu khác nhau, bên cạnh loại kiệu bát cống thì còn có kiệu long đình, kiệu võng… Nhìn một cách tổng quát, kiệu là một cấu kiện trung tâm trong các đoàn rước lễ hội, luôn được nâng cao hơn hẳn dòng người tham gia với mục đích tôn vinh vị thần linh và thu hút mọi ánh nhìn của khách hành hương.

Một bộ kiệu bát cống tiêu chuẩn luôn được kết tạo từ hai thanh đòn dọc cỡ lớn, sở hữu phần đầu và phần đuôi đồng điệu với hình dáng đầu và đuôi rồng. Hai thanh xà giằng được bố trí để nối liền hai phần cổ và phần đuôi, tạo nên một hệ khung vô cùng vững chãi. Trên hệ khung chắc chắn đó, người xưa thường đặt một chiếc ỷ có hình dáng như một chiếc sập nhỏ, vừa vặn với độ mở lòng của kiệu. Chiếc sập này thường được trang trí bằng hình ảnh những con rồng đang uốn lượn đua chạy ở hai bên bên mạn, riêng phần lưng là một mảng ván lớn dành cho chạm khắc hoa văn. Toàn bộ các cấu kiện này khiến cho chiếc sập thờ đôi khi mang tư cách như một chiếc bành kiệu. Trên mặt bành thường là nơi đặt ngai thờ và bài vị linh thiêng (được cung nghinh từ trong hậu cung ra). Nằm ở phía dưới hai đầu của thanh xà giằng là hệ thống đòn khiêng, cũng được tạo tác theo hình rồng đồng bộ với phong cách của đòn kiệu chính. Một đặc trưng rất đáng lưu ý của kiệu cổ truyền Việt Nam là xu hướng đẩy ngai thờ cùng bài vị lên vị trí thật cao, nhằm tạo nên sự thành kính tối thượng và giúp tất cả mọi người đều có thể dễ dàng chiêm bái. Để hiện thực hóa ý thức tâm linh ấy, thanh đòn chính của kiệu ở phần tiếp nối với thanh xà giằng đều được thợ xưa làm võng cong xuống phía dưới để phần thân kiệu được nhô cao lên. Thanh xà giằng ngang mang tạo hình của một con rồng hai đầu với phần lưng nhô cao để đỡ lấy thanh đòn cái, trong khi phần cổ rồng võng xuống để tì lực trực tiếp lên thanh đòn khiêng. Thanh đòn khiêng cũng vươn phần lưng lên trên. Sự kết hợp của cả ba hệ thống đòn cùng cong hướng lên này đã giúp kiệu đạt được một độ cao nhất định, tạo nên dáng vẻ bề thế nhưng vẫn đảm bảo sự cân đối, hài hòa.

Đặc điểm nổi bật thứ hai của kiệu thờ là sự xuất hiện dày đặc của các đề tài mỹ thuật được thi triển qua các kỹ thuật chạm tròn, chạm nổi, chạm thủng hay chạm bong kênh… Tuy nhiên, các mảng chạm khắc này lại phối hợp với nhau một cách vô cùng hợp lý, nhuần nhuyễn. Ở những thanh đòn kiệu chính thuộc thế kỷ XVII và XVIII, đầu rồng thường có xu hướng vươn mạnh về phía trước, đi kèm với hệ thống đao mác ở gáy rồng được vuốt thẳng tắp ra sau, tạo nên cảm giác chuyển động sống động. Phần vai đòn là nơi chạm khắc hình rồng hoặc hình lân, riêng phần thân (lưng) đòn được để trơn phẳng vì đây là nơi phải gánh đỡ chiếc bành hoặc chiếc khám thờ. Để xử lý các nét thẳng có phần thô cứng ở phần bụng đòn, người xưa đã có một giải pháp mỹ thuật rất khéo léo là tạo ra một khoảng “dạ cá”, với vị trí trung tâm của dạ cá thường chạm hình hổ phù, hai bên điểm xuyết thêm họa tiết vân xoắn hoặc chim phượng. Hai thanh đòn giằng cũng tuân theo một bố cục tương tự như đòn cái với bốn đầu rồng vươn bay ra hai bên. Hệ thống đòn khiêng gồm bốn con rồng có kết cấu gần như đòn chính, ngoại trừ phần tiếp nối với đòn giằng thì phần lưng đòn đều được chạm trổ cực kỳ tỉ mỉ. Với cách thức bố trí như trên, cỗ kiệu nghiễm nhiên trở thành tâm điểm nổi bật nhất trong đám rước. Cùng với các loại đồ nghi trượng khác, kiệu thờ tạo nên một không gian uy nghiêm bề thế và giàu tính nghệ thuật. Trong giai đoạn thế kỷ XVII và XVIII, đầu và đuôi rồng trên kiệu chỉ ngóc cao ở một mức độ vừa phải, thấp hơn so với tay bành. Tuy nhiên từ thế kỷ XIX trở về sau, quy chuẩn này không còn được duy trì nghiêm ngặt nữa mà phần đầu và đuôi rồng có xu hướng ngóc cao hẳn lên. Khi đứng ở phía mặt trước của kiệu, phần chạm khắc tinh xảo sẽ lập tức thu hút ánh nhìn của người xem với góc nhìn trực diện là ngai thờ, bài vị cùng các đồ tự khí đi kèm; còn ở phía mặt sau chủ yếu là phần lưng bành, nơi thường được chạm khắc đặc kín các đề tài rồng, phượng hoặc bộ tứ linh. Bên cạnh đó, người xưa còn lồng ghép vào đó những ước vọng nhân sinh, nên nhiều khi các hình chạm mây nước hay cây cỏ linh thiêng đã được phối hợp chặt chẽ để thể hiện sự hòa hợp của trời đất thông qua hệ thống tam sơn nằm trên trục chính tâm.

Những tập tục và hiện tượng độc đáo trong nghi thức rước kiệu

Nghi thức rước kiệu là một phần đại diện cốt lõi của việc thờ phụng thần linh. Niềm tin tâm linh của dân gian đối với hoạt động này thường rất cao, chính vì vậy những người đi phu kiệu (trai kiệu) phải được lựa chọn một cách vô cùng cẩn mật. Ngoài yêu cầu về diện mạo quang quẻ, gia cảnh tốt tươi, hòa thuận đầm ấm thì người được chọn bắt buộc phải có một nền tảng sức khỏe thật tốt. Bởi lẽ trong quá trình hành lễ, mỗi khi đoàn rước đi qua một ngôi đền nào đó, các vị thần sẽ có nghi thức chào nhau khiến cỗ kiệu tự động xoay tròn, hoặc vì một nguyên do tâm linh nào đó mà nảy sinh hiện tượng xuất thần tập thể làm cho cỗ kiệu như đang bay. Trong trường hợp này, quân kiệu sẽ chạy băng băng trên những cánh đồng, có lúc lao lên triền đê rồi lại lộn xuống dưới mà cỗ kiệu lớn vẫn không hề bị đổ chịu tác động. Trên thực tế, khi tổ chức lễ rước, không một ai định sẵn ra hiện tượng quay hay bay này, nhưng chính những lời đồn thổi truyền lại từ đời trước đã tác động sâu sắc vào tâm thức của những người khiêng kiệu. Do đó khi sự việc diễn ra, cùng với sự chuyển dịch mạnh mẽ của cỗ kiệu lớn được chạm trổ kỳ công, tâm trí của con người lúc ấy chỉ còn hướng trọn vẹn về thế giới linh thiêng. Ở một số nơi, nếu các phu kiệu được phát cho một ống đu đủ dài, dù không cần nói ra, thì gần như chắc chắn sẽ xuất hiện hiện tượng kiệu bơi qua sông. Lúc này, quân kiệu sẽ đi ngầm hoàn toàn dưới mặt nước, dùng tay nâng đỡ cỗ kiệu ở phía trên và duy trì nhịp thở thông qua chiếc ống đu đủ đó. Người xem đứng trên bờ sẽ có cảm giác như cỗ kiệu đang dập dờn trên sóng nước, tự lướt từ bờ bên này sang bờ bên kia một cách kỳ bí. Những hiện tượng liên quan đến việc rước kiệu được diễn ra dưới rất nhiều hình thái phong phú khác nhau, điều đó xuất phát từ sự khác biệt trong tập tục của mỗi vùng miền và bởi niềm tin vào thần linh của người dân là vô giới hạn.

Trong các đoàn rước, nếu cỗ kiệu bát cống được xác định là kiệu nữ thì phần đầu kiệu thông thường sẽ được thay thế bằng hình tượng chim phượng. Tuy nhiên, do số lượng làng xã sở hữu kiệu phượng không nhiều nên người ta vẫn chủ yếu sử dụng kiệu rồng, hoặc đôi khi có thể thay bằng một thanh đòn dài để treo chiếc võng điều. Đối với trường hợp treo võng điều này, thanh đòn dọc thường được tạo hình đầu chim phượng ở phần đầu.

Đối với những cỗ kiệu long đình, hiện vật này rất ít khi được khiêng bằng hệ thống nhiều thanh đòn như ở kiệu bát cống. Thông thường, chiếc long đình (có cấu trúc tương tự như một chiếc khám thờ) sẽ được đặt cố định trên một chiếc bàn khá cao có kiểu dáng như chiếc nhang án, sau đó người ta lồng các thanh đòn đơn giản sơn màu đỏ để bốn người khiêng đi. Cũng có những chiếc long đình được thiết kế sáu mặt hoặc tám mặt, được đặt trang trọng trên một chiếc ỷ bốn chân và lắp hệ thống đòn khiêng mang hình rồng… Các cỗ kiệu long đình này thường có nhiệm vụ đi tiên phong trước kiệu chính, trên mặt kiệu người ta bày trí hương nến cùng một số đồ lễ vật phục vụ tuần rước.