Ý nghĩa bức Hoành Phi cổ 3 chữ «Thực Cựu Đức» (食舊德)

Nhiều lần lên thắp hương bàn thờ nhà bác (anh mẹ tôi) mà tôi chưa hiểu hết ý nghĩa bức hoành phi treo ở trên. Đây là bức hoành phi khá cổ được làm vào Năm Bảo Đại thứ 10, tức năm 1935. Đến nay có thời gian tra cứu mới thấy bức hoành này rất có liên quan đến bức Lũy Thế Bảo Điền tôi đã diễn giải. Và ý nghĩa rất đặc sắc không kém phần bức kia. Quả là đáng ngưỡng mộ chữ nghĩa của tiền nhân.

«Thực Cựu Đức» (食舊德). Thực sự nếu nhìn vào 3 chữ mà ta tách nghĩa từng từ ra thì rất khó để hiểu hết ý nghĩa. Bởi chữ trên hoành phi thường có nghĩa gốc rất sâu và có thể nằm trong một cuốn sách kinh điển nào đó. Mà hiện giờ hầu hết ta không được học. Nếu chỉ dựa vào 3 chữ:

  • Thực (食): Ăn
  • Cựu (舊):
  • Đức (德): Âm đức, đạo đức

Mà hiểu theo lối thông thường thành “ăn đức cũ” thì thật nông cạn và có lỗi với tổ tiên. Bởi vậy ngày xưa mới nói biết chữ nhưng chưa chắc đã hiểu được nghĩa là vậy. Vậy bức hoành này có gì hay đáng để ta học hỏi:

bức Hoành Phi cổ 3 chữ «Thực Cựu Đức» (食舊德)
bức Hoành Phi cổ 3 chữ «Thực Cựu Đức» (食舊德)

1. Giải nghĩa chiết tự: «Thực Cựu Đức» là gì?

  • Thực (食): Vốn có nghĩa là ăn, thụ hưởng lộc báu, hấp thụ dưỡng chất để nuôi dưỡng sự sống.
  • Cựu (舊): Nghĩa là xưa cũ, tiền nhân, những gì thuộc về thế hệ trước.
  • Đức (德): Âm đức, đạo đức, phước đức và nếp gia phong thanh bạch do tổ tiên dày công tích tụ.

Vậy hiểu đơn giản theo nghĩa nông nhất thì đây là thụ hưởng âm đức của tiền nhân. Nhưng đó cũng là tầng nghĩa nông mà thôi. Ta cần nương theo dấu vết của điển cố.

2. Xuất xứ kinh điển của cụm từ «Thực Cựu Đức»

Khái niệm «Thực Cựu Đức» (食舊德) có gốc rễ uyên bác trong nền học thuật cổ điển:

  • Kinh Thư (Thượng Thư – thiên Bàn Canh): Xuất hiện thành ngữ trọn vẹn «Thực cựu đức, phục tiên trù» (食舊德,服先疇) – mang nghĩa hưởng cái ân đức của đời trước và tiếp tục gánh vác, cày cấy trên mảnh ruộng sự nghiệp do tổ tiên để lại.
  • Kinh Dịch (Quẻ Thiên Thủy Tụng – 訟): «Lục Tam: Thực cựu đức, trinh lệ, chung cát…» (六三:食舊德,貞厲,終吉). Thực cựu đức (食舊德): có thể hiểu theo hướng giữ lấy và hưởng dụng cái vốn có, an phận thủ chính, không tranh đoạt vượt quá bổn phận; Dù hoàn cảnh có nguy nan (貞厲 – trinh lệ), nếu biết giữ đúng đạo thì cuối cùng vẫn được cát lành (終吉 – chung cát).

3. Mối liên hệ sâu sắc với Điền trong «Lũy Thế Bảo Điền» (累世寶田)

Triết lý «Thực Cựu Đức» chính là chìa khóa giải mã cho tư tưởng Bảo Điền (ruộng báu) của bức hoành phi cổ «Lũy Thế Bảo Điền» mà tôi đã bàn.

Trong Kinh Thi – Đại Nhã – bài Hoàng Hĩ có câu:

食舊德,服先疇 (thực cựu đức, phục tiên trù)

Lưu ý chữ Trù 疇 ở đây cũng có nghĩa là ruộng. Phục 服 ở đây nghĩa là cày cấy vì người xưa có từ 服田 là cày ruộng. Và cũng như điền thì Trù ở đây cũng có nghĩa hiểu là ruộng quý (bảo điền) mà tôi đã bàn.

4. Thực Cựu Đức trong không gian thờ tự khuyên con cháu điều gì?

Bức hoành phi trong không gian thờ tự gia đình Thực Cựu Đức「食舊德」có thể hiểu:

  • Thừa hưởng phúc xưa (Thực cựu đức): Nhắc nhở con cháu luôn tri ân cội nguồn. Phúc trạch hôm nay ta có không phải ngẫu nhiên mà đến, đó là kết tinh từ «Phúc Điền» (ruộng phước đức), «Tâm Điền» (ruộng tâm tính) và «Thư Điền» (nếp nhà đọc sách học hành) do tiên tổ nhiều đời khai khẩn.
  • Trách nhiệm cày mảnh ruộng phúc đức tổ tiên để lại (Phục tiên trù) 服先疇: Của cải vật chất dù nhiều bao nhiêu cũng có ngày vơi cạn; nếu con cháu chỉ biết hưởng thụ mà không lo chăm bón thì ruộng phúc ắt khô cằn. Do đó, đời sau phải tiếp tục tu thân, tích đức, trau dồi tri thức để bồi đắp cho thửa ruộng gia bảo thêm xanh tốt.

Tóm lại, có thể hiểu theo tầng nghĩa sâu sắc của 2 câu này là:

Hưởng cái đức của người trước, tiếp nối cày xới cái ruộng ân đức mà tổ tiên đã gây dựng.