Trò Chơi Dân Gian Đánh Đu: Nét Đẹp Văn Hóa Việt Nam

Trò chơi dân gian đánh đu thường được biết đến với những tên gọi quen thuộc khác như “đánh đu” hay “lên đu”. Chiếu theo các nguồn sử liệu cũ, hoạt động giải trí này đã xuất hiện từ thời nhà Trần. Trong cuốn sách cổ Đại Việt sử ký toàn thư có ghi chép lại rằng: “Ở Hóa Châu, hằng năm cứ đến mùa xuân, tháng Giêng, con trai con gái họp nhau lại đánh đu ở Bà Dương(?)”. Ở giai đoạn trước năm 1945, đánh đu đã trở thành một trò chơi vô cùng phổ biến, lan tỏa khắp ba miền Bắc, Trung, Nam, trong đó ghi nhận sự phát triển mạnh mẽ nhất tại những tỉnh vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Dù tồn tại dưới khá nhiều hình thức chơi cùng hệ thống tên gọi phong phú khác nhau, song ba kiểu đánh đu mà chúng ta thường bắt gặp nhất trong thực tế bao gồm đu bay, đu tiên và đu ngóc.

1. Trò Chơi Dân Gian Đánh Đu Bay: Nhịp Nhún Đầy Sức Sống Của Tuổi Trẻ

Đối với hình thức đu bay, giàn đu thường được người dân dựng ngay giữa một thửa ruộng có địa hình bằng phẳng nằm gần đình làng, lựa chọn vào khoảng thời gian đất đai đang trong thời kỳ nghỉ ngơi. Người ta sẽ chọn từ 4, 6 hoặc 8 cây tre đực chắc chắn để trồng xuống đất. Tiêu chuẩn chọn tre ở đây tương đối khắt khe: cây phải ở độ tuổi vừa tầm, không được quá non vì sẽ dễ bị dập gãy hay thiếu độ bền, đồng thời cũng không chọn cây quá già do giảm tính đàn hồi, đặc biệt các đốt tre phải nguyên vẹn và không bị kiến đục khoét. Cấu trúc này nhằm đảm bảo giàn đu đủ khả năng chịu đựng tổng trọng lượng của hai người chơi cùng với lực đẩy quán tính phát sinh. Hai cây tre được dùng làm tay đu (nơi gắn bàn đứng phía dưới) đòi hỏi dáng thuôn dài, bề mặt nhẵn nhụi để vừa vặn với tầm tay nắm. Công đoạn chôn cột sau khi hoàn thành và được rà soát kỹ lưỡng sẽ tiến hành niêm phong cẩn thận.

Khi ngày hội làng chính thức diễn ra, ngay sau phần tế lễ trang nghiêm thì trò chơi mới được bắt đầu. Ban tổ chức sẽ trân trọng kính mời một cụ già có uy tín lớn, giàu trải nghiệm trong làng ra kiểm tra lại toàn bộ giàn đu lần cuối cùng. Nếu mọi thông số đều an toàn, cụ sẽ cho gỡ bỏ các dải dây niêm phong, tiếp đó chắp tay vái chào người xem đang vây quanh bốn phía như một cử chỉ tôn trọng dành cho “tứ phương bầu bạn”. Đại diện cho tiếng nói của toàn thể dân làng, cụ già sẽ bước lên để làm thủ tục “khai đu”. Lúc này, một tràng pháo nổ vang giòn giã hòa cùng sắc cờ hội phấp phới bay trong gió như lời thúc giục, mời gọi các cặp trai gái cùng nhau “lên đu”. Yêu cầu đối với trang phục của người tham gia là phải gọn gàng, đẹp mắt và được tạo điểm nhấn bằng những chiếc thắt lưng có màu sắc rực rỡ ở bên ngoài. Thành phần vận động viên nòng cốt tham gia trò chơi này thường là những nam thanh nữ tú mới lớn, sở hữu sức khỏe dẻo dai. Do đặc thù người chơi phải nhún nhảy liên tục để đẩy chiếc đu bay bổng lên giữa không trung nên loại hình này được đặt tên là “đu bay”. Trò chơi cho phép một người tham gia độc lập (gọi là đu đơn) hoặc kết hợp hai người (gọi là đu kép). Dẫu vậy, việc một nam kết hợp cùng một nữ mới là điều tạo nên trọn vẹn sự thú vị, hào hứng cho chính những người trong cuộc.

“Khen ai khéo dựng đu này
Để cho trai gái chơi ngày, chơi đêm.”

Đứng ở góc độ của khán giả xung quanh, họ mới cảm nhận được hết cái hương vị sâu sắc và tinh tế mà nữ sĩ Hồ Xuân Hương từng khắc họa qua vần thơ:

“Trai đu gối hạc khom khom cật,
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng.”

Khi bắt đầu, hai người chơi bước lên bàn đu từ hai hướng đối diện, mắt nhìn thẳng vào nhau, đôi tay bám chặt lấy thân tre rồi phối hợp dùng lực chân nhún đều theo từng nhịp. Sự phối hợp này tạo ra một hợp lực mạnh mẽ, đẩy chiếc đu từ từ chuyển động lên cao dần. Chiếc đu dao động qua lại tương tự như chuyển động của quả lắc đồng hồ, khi đã bắt được đà thì càng lúc càng bay lên cao mãi. Hình ảnh đôi trai gái bay bổng giữa nền trời xanh, hòa cùng những tà áo và dải thắt lưng màu sắc tung bay phấp phới tạo nên một khung cảnh tuyệt đẹp. Người xem bên dưới vừa hồi hộp dõi theo độ cao của chiếc đu, vừa không ngớt vỗ tay reo hò vang trời giữa tiếng trống hội thúc giục liên hồi.

Giải thưởng từ ban tổ chức luôn dành sẵn cho những người có kỹ thuật chơi đu xuất sắc. Tuy nhiên, cơ cấu treo giải lại mang tính chất thách đố và đầy trớ trêu. Người ta sẽ buộc phần thưởng vào đầu một cần tre dài đặt trên đỉnh cao của cột đu. Muốn chạm tay vào phần thưởng, người chơi bắt buộc phải đưa đu bay bổng lên tới một độ cao nhất định, sau đó phải khéo léo giữ đà và buông một tay ra để giật lấy giải. Trong trường hợp vô tình làm phần thưởng rơi thẳng xuống mặt đất thì lượt chơi đó cũng xem như không được tính. Nhờ tính chất hấp dẫn và kịch tính như vậy, trò chơi đánh đu tại nhiều hội làng luôn sở hữu sức hút rất lớn đối với cả người tham gia lẫn người cổ vũ.

Tại vùng đất Vĩnh Phúc, các làng nổi tiếng với phong trào chơi đu có thể kể đến như: Minh Phương, Minh Nông, Gia Dụ, Đông Lương. Tại khu vực Hà Nội, hoạt động này diễn ra sôi nổi ở Cổ Loa, Dục Tú, Vĩnh Ninh, Ninh Hiệp, Tây Trực, Dịch Vọng…. Ở tỉnh Bắc Ninh có các địa danh như Thị Cầu, Hội Xá, Đình Bảng; trong khi tại Nghệ An có Phố Châu và ở Hà Tĩnh có làng Hữu Bàng.

Sự Khác Biệt Trong Lối Chơi Đu Tại Phương Nam

Tìm hiểu về lịch sử phương Nam, hoạt động chơi đu trước đây cũng từng là một tập quán khá phổ biến. Học giả Trịnh Hoài Đức từng miêu tả chi tiết trong tác phẩm Gia Định thành thông chí của mình như sau: “Tiết Nguyên Đán ở Gia Định (tức Nam Bộ ngày nay) có cuộc chơi đánh đu, nhưng khác với đu ở Trung Hoa. Cách làm đu: cột tre làm trụ ở hai bên tả hữu ba vòng tròn, giữa chỗ đánh đu qua lại, thì hai bên tả hữu trước sau chia trống bốn trụ tre cách rộng ra, trên đầu buộc túm lại cho chặt, gác ngang ở giữa một cây tròn, xâu hai cái ròng rọc tiếp liền với hai cần tre dài gần hết đất, lượng chừng cho người leo lên được, đầu dưới hai cần tre gác ngang một miếng ván để làm chỗ đứng; một người leo lên hai tay cầm hai cần tre hai bên, uốn mình nhổm lên phục xuống, đưa đu lui tới giữa không trung, làm như vậy gọi là đánh đu. Cuộc chơi ấy, có nhiều hiếu sự treo những khăn, quạt, tiền bạc để làm giải thưởng, ai đu lên cao đến chỗ treo giải thưởng ấy, lẹ tay lấy được khoe tài là xuất chúng, nếu rủi trật tay ngã xuống dễ bị trọng thương. Lại có đôi khi, hai người hoặc ba, bốn người đồng đu một lượt, nhưng trai thì đồng đu với trai, gái thì đồng đu với gái, chứ trai gái không đu chung với nhau”. Quy định nam nữ không tham gia đu chung này chính là nét khác biệt đặc trưng nhất của lối chơi đu miền Nam khi đặt lên bàn cân so sánh với miền Bắc.

2.Trò Chơi Dân Gian Đánh Đu Tiên: Vẻ Đẹp Thơ Mộng Như Những Nàng Tiên

Khác với sự mạnh mẽ của đu bay, đu tiên thường là sân chơi dành riêng cho các thiếu nữ. Mỗi dịp vào hội, các cô gái xinh đẹp của xứ Bắc sẽ khoác lên mình những bộ áo dài tứ thân thướt tha còn thơm mùi vải mới, thắt dải lưng màu hoa lý hoặc màu hoa đào rực rỡ, đầu chít khăn mỏ quạ khéo léo, hiện lên đầy duyên dáng tựa như những nàng tiên bước ra từ truyện cổ. Có lẽ chính từ hình ảnh thơ mộng này mà lối chơi đu trên đã được dân gian ưu ái gọi bằng tên “đu tiên”. Hệ thống đu tiên được dựng nên nhờ hai cột gỗ lớn vô cùng chắc chắn và cao ráo chôn sâu xuống lòng đất, phía trên có trục bắc ngang. Phần trục này được kết nối với 6 đôi thân tre dài, nối liền vào 2 bánh xe lớn mang hình lục lăng (kiến trúc này trông khá tương đồng với chiếc guồng nước, với các đôi thân tre đóng vai trò như những chiếc nan hoa của xe đạp). Người ta sẽ tiến hành móc vào các thân tre này nhiều chiếc ghế ngồi (bàn đu) có kích thước vừa vặn cho một hoặc hai người ngồi. Sáu cá nhân hoặc sáu cặp đôi sẽ lần lượt bước lên ngồi định vị tại sáu chiếc ghế. Cơ chế chuyển động của bánh xe hệ thống dựa vào chính sức đạp chân của những người đang ngồi ở bàn đu phía dưới. Khi có lực tác động, bánh xe sẽ quay đều theo chiều ngược kim đồng hồ.

Tại địa bàn Vĩnh Phúc, các cặp nam nữ thanh niên thường chọn ngồi chung trong cùng một ghế đu. Khi vòng đu quay tròn, nhìn từ xa cấu trúc này chuyển động trông giống hệt như chiếc cọn nước (guồng nước) của đồng bào các dân tộc miền núi, chính vì thế người dân nơi đây còn gọi bằng cái tên khác là “đu cọn”. Đối với người dân Bắc Ninh, họ lại quen gọi loại hình này là “đu guồng”, còn đồng bào ở Nghệ An thì gọi tên là “đu quay”. Trong suốt quá trình chơi đu, những người ngồi trên ghế không chỉ dừng lại ở việc trò chuyện hay cười đùa cùng nhau mà còn cất cao tiếng hát hò vô cùng sôi động. Khán giả đứng xem xung quanh cũng tham gia cổ vũ một cách nhiệt tình, làm cho bầu không khí ngày hội làng thêm phần náo nhiệt, hồn nhiên. Những câu ca truyền miệng từ ngàn xưa như đã trở thành một quy ước bất thành văn trong đời sống cộng đồng:

“Chơi đu thì phải hò đu,
Bao nhiêu trai gái lên đu phải hò”

Hay câu hát:

“Đu tiên mới dựng năm nay,
Cô nào hay hát kỳ này hãy lên!”

Tác giả của cuốn Gia Định thành thông chí cũng từng để lại những dòng mô tả rất sinh động về cách thức vận hành của trò chơi đu tiên tại vùng đất Gia Định thuở xưa: “Lại có cuộc chơi vân xa thu tiên (tục gọi đánh đu tiên). Cách thức: Hai bên trồng hai trụ cao, gác ngang một bánh xe bằng gỗ, trong có cái trục cũng bằng gỗ có thể xoay chuyển, hoạt động, gác lên hai trụ ấy như bánh xe nước vậy. Trong bánh xe chia đặt 8 miếng ván để làm chỗ ngồi, mỗi chỗ có đặt cái ròng rọc, rồi 8 người phụ nữ trang sức yêu kiều, y phục mới tốt, lên ngồi theo thứ tự 8 miếng ván trong bánh xe. Đầu tiên, phải mượn người đứng lên quay bánh xe cho chạy tròn, rồi tiếp theo người ngồi trên xe ở phía gần dưới đất lấy chân dùng lực đạp mạnh trên đất cho xe xoay chuyển nhanh, trông thấy y phục phấp phới như bầy tiên bay múa trong mây rất đẹp mắt. Cuộc chơi này khởi sự vào buổi mai Nguyên Đán cho đến đêm rằm tháng giêng mới thôi”.

Các Biến Thể Đu Rút Và Đu Dàn Xay Tại Gia Định

Bên cạnh hình thức đu tiên kể trên, tư liệu cũ còn ghi nhận thêm một số biến thể chơi đu độc đáo khác ở vùng đất phía Nam:

“Có cuộc chơi đu: trồng hai cây trụ, trên gác ngang một cái cây tròn, vắt cái dây thật bền, dẻo lên trên cây ấy, một đầu dây buộc một cây ván, một đầu dây thả thòng xuống, người chơi đứng trên cái cây ván ấy rút thẳng mối dây cho ngay theo mình, hai tay cầm đầu dây thả thòng ấy, dùng lực thâu rút mối dây xuống cho thân người từ từ lần lên cao, bơi nhoài ở giữa không trung để làm trò vui (tục gọi là đu rút)”.

“Có cuộc chơi nữa: Trồng một trụ ván ở giữa, bề cao đến rốn, đầu cây trên đẽo nhỏ làm cái nỏ, lại dùng một cái dây dài 6, 7 thước (thước ta bằng 0,40 m) tròn 7, 8 tấc, chính giữa cây khoét một cái lỗ sâu nửa thân cây, gác ngang trên nỏ cây trụ. Nỏ trụ và cái lỗ giữa cây gác ngang ấy phải vừa nhau; rồi hai người trai, mỗi người chia ngồi một đầu cây đối diện nhau, hai tay cầm giữ lấy đầu cây, hai chân nhún đạp lên xuống, xoay chuyển khi thuận, khi nghịch để chơi cho vui (tục gọi là đu dàn xay); cũng có đào lỗ ở mặt đất để các giải thưởng dưới lỗ. Đôi người khi ngồi trên đầu nọ dùng sức đè mạnh xuống, khiến người ngồi đầu kia vổng lên trên cao vót, không chỗ đạp chân, chơi vơi, nghiêng ngả, nhiều khi té dễ bị thương”.

3.Trò Chơi Dân Gian Đánh Đu Ngóc: Thử Thách Lòng Dũng Cảm Của Những Kỵ Sĩ

Nếu có dịp về với hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh vào mùa lễ hội, bạn sẽ được chứng kiến một lối chơi vô cùng đặc sắc mang tên “đu ngóc”. Cấu tạo của giàn đu ngóc bắt đầu từ một cột gỗ được chôn định vị thật chặt xuống mặt đất, trong đó phần thân gỗ nhô lên cao so với mặt đất khoảng từ 70 đến 80 cm, phần đầu cột được đẽo sẵn một cái mấu cố định. Người ta sẽ dùng một tấm ván gỗ có bề rộng tầm 25 cm, chiều dài ước chừng 5 m và tiến hành đục một chiếc lỗ chính xác ở vị trí tâm. Chiếc lỗ này phải có kích thước vừa vặn hoàn toàn với đầu thân gỗ chôn dưới đất. Khi lắp ráp, tấm ván gỗ dài sẽ được đặt cân bằng lên trên trụ thông qua lỗ đục này.

Khi bước vào cuộc chơi, hai vận động viên sẽ ngồi đối diện nhau ở hai đầu tấm ván. Họ liên tục dùng lực chân đạp mạnh xuống nền đất để đẩy đầu ván bên này vổng lên cao, đồng thời khiến đầu ván đối diện hạ thấp xuống, tạo nên một chuyển động quay tròn xung quanh trục cố định. Để tham gia trò chơi đu ngóc này, người chơi bắt buộc phải có một nền tảng thể lực rất tốt. Cảm giác của người ngồi trên đu được ví như đang đứng trên một con tàu lênh đênh bị những con sóng lớn xô đẩy liên tục, tạo ra sự dập dềnh đầy phấn khích nhưng cũng đòi hỏi một tinh thần dũng cảm, kiên cường. Những người tham gia chơi đu ngóc thường lựa chọn trang phục vừa đẹp mắt lại vừa gọn gàng, mang phong thái tựa như những kỵ sĩ thực thụ.

Ở phía dưới, khán giả xung quanh sẽ ném những đồng tiền thưởng vào trong phạm vi chuyển động của đu quay để tạo thêm thử thách. Hai người đang trên đu vừa phải phối hợp đạp đất cho ván tiếp tục quay và chuyển động lên xuống dập dềnh, vừa phải nhanh tay nhanh mắt cúi người xuống để tranh thủ nhặt lấy những đồng tiền thưởng nằm dưới mặt đất. Ai là người xuất sắc nhặt được nhiều tiền thưởng nhất sẽ nhận được thêm một phần quà khích lệ lớn từ phía làng. Chính yếu tố cạnh tranh trực tiếp này đã biến cuộc đua tài trở nên vô cùng lôi cuốn, kịch tính và thu hút đông đảo mọi người dõi theo.


(1) Đại Việt sử ký toàn thư, Tập II, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1967, tr. 150.