| Dân tộc: | Giarai và một số tộc người khác ở Tây Nguyên như Bahnar, Êđê… |
| Đối tượng suy tôn: | Người thân đã chết. |
| Địa điểm: | Nơi nghĩa địa, chung quanh nhà mồ. |
| Thời gian: | Từ 2 đến 5 ngày. |
| Đặc điểm: | Hệ thống lễ thức kết hợp với việc ăn uống, vui chơi mang tính cộng đồng cao. |
Trái ngược với người Việt luôn đặt nặng đạo hiếu vào việc gìn giữ, săn sóc phần mộ của người đã khuất thông qua các hoạt động viếng thăm, tảo mộ định kỳ vào dịp Tết, ngày giỗ hay lễ hội thường niên, số đông các cộng đồng dân tộc tại vùng đất Tây Nguyên lại sở hữu một nhãn quan hoàn toàn khác biệt đối với cái chết. Những cư dân như người Giarai, Êđê, Bahnar… không duy trì tập tục thờ phụng tổ tiên hay tổ chức ngày kỵ giỗ đều đặn mỗi năm cho người thân thân yêu của mình. Theo thế giới quan của họ, sự ra đi của một con người là do các thế lực ác thần gây nên. Sau khi chôn cất, toàn bộ tài sản được phân chia cho người đã khuất đều được mang ra đặt tại khu nhà mồ ngoài bìa rừng. Bằng niềm thương xót sâu sắc, thân nhân sẽ trông nom, coi sóc phần mộ này trong một khoảng thời gian giới hạn, trước khi chính thức tiễn biệt họ đi vào cõi vĩnh hằng thông qua ngày lễ bỏ mả. Đây là nghi thức sau cùng nhằm đưa tiễn người chết về cư ngụ hoàn toàn ở một thế giới khác, đồng thời cũng là sự kiện có quy mô lớn nhất trong toàn bộ tiến trình tang lễ. Khi lễ hội này khép lại, mọi mối dây ràng buộc, liên hệ giữa thế giới người sống và người chết chính thức chấm dứt. Người đã khuất lúc này biến thành “ma”, thuộc về hẳn cõi âm xa xôi. Xét về mặt phong tục lẫn tình cảm, người ở lại không còn vướng bận bất cứ trách nhiệm hay nợ nần gì với người đi trước. Người vợ góa hoặc chồng góa từ đây được tự do tìm kiếm hạnh phúc mới và “đi bước nữa”.
Thời Gian Và Quy Mô Tổ Chức Lễ Bỏ Mả Pơthi Độc Đáo
Nhìn một cách tổng thể, lễ bỏ mả của các tộc người vùng cao Tây Nguyên mang những nét tương đồng căn bản, bởi tất cả đều bắt nguồn chung từ một ý niệm về ranh giới giữa sự sống và cái chết. Dù vậy, lễ bỏ mả trong đời sống người Giarai dưới tên gọi Pơthi hay Hủa lui lại được tiến hành một cách long trọng, mang đậm bản sắc văn hóa riêng biệt hơn cả. Nghi lễ thường được diễn ra sau khi người thân qua đời một thời gian, thông thường khoảng hai đến ba năm, hoặc có khi kéo dài tương đương với một kỳ mãn tang. Khoảng lặng thời gian này vừa đủ để những nỗi đau thương lùi xa, giúp tâm lý người thân được nguôi ngoai, mặt khác tạo điều kiện cho gia chủ tích lũy, sửa soạn đầy đủ các nguồn lực vật chất cần thiết như gạo nếp, gà vịt, trâu bò và rượu cần cho ngày trọng đại. Mặc dù đây là công việc xuất phát từ nội bộ của một vài hộ gia đình cụ thể, nhưng chiếu theo tập tục truyền đời của người Giarai, sự kiện này lại trở thành công việc chung của toàn thể cộng đồng plơi. Đây là ngày hội thu hút số lượng người tham gia đông đảo nhất, mang quy mô hoành tráng và bầu không khí náo nhiệt nhất so với bất kỳ lễ hội nào khác trong năm.
Theo thông lệ, lễ Pơthi được ấn định tổ chức sau khi mùa màng đã thu hoạch xong xuôi, lựa vào những đêm trăng sáng, tương đương với các tháng đầu năm theo lịch âm. Khung thời gian này rơi vào mùa nông nhàn và dịp đầu xuân, khi tiết trời chuyển ấm áp, cỏ cây hoa lá đua nhau nảy lộc, các con đường rừng trở nên khô ráo, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại cũng như tổ chức các hoạt động hội hè, vui chơi. Trước đây, một cuộc lễ hội có thể kéo dài liên tục trong vòng 5 ngày, còn hiện tại phổ biến ở mức 3 ngày 2 đêm, hoặc tối thiểu cũng phải diễn ra trong 2 ngày.
Công Tác Sửa Soạn Và Kiến Trúc Điêu Khắc Nhà Mồ
Một khi gia đình người quá cố đã chuẩn bị chu tất mọi lễ vật, bao gồm cả những vật dụng sinh hoạt thường ngày và công cụ lao động để thực hiện thủ tục “chia phần cho người chết”, họ sẽ đánh tiếng cho dân làng trong plơi được biết và cậy nhờ bà con chung tay giúp sức. Những ngày cận kề lễ bỏ mả, bầu không khí trong plơi trở nên rộn ràng, tấp nập hơn hẳn. Một người thân trong gia đình hoặc vị già làng có uy tín sẽ đứng ra thực hiện nghi thức khấn báo, mời linh hồn người chết về tham dự lễ chia tay cuối cùng này. Ngay sau đó, những chàng trai lực điền trong làng vác dao lên rừng chặt tre, chặt gỗ mang về làm nhà chòi, dựng bàn tế và tu sửa lại nhà mồ. Những người đàn ông khéo tay nhất sẽ đảm nhận phần trang trí, đan cài hoa văn, vẽ tranh và tạc các pho tượng mồ bằng gỗ có hình thù sinh động như hình người, voi, hươu, nai… Những sản phẩm này chính là các tác phẩm nghệ thuật dân gian độc sắc, có sự kết hợp hài hòa giữa tư duy kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc trang trí. Bao quanh khu mộ được rào chắn cẩn thận bằng những khúc cây rừng xếp khít lại với nhau, và một đàn tế (gọi là pơtiang) được dựng ngay phía trước nhà mồ.
Trong khi đó, phe nữ thanh niên chịu trách nhiệm vào rừng lấy củi, hái lá, chặt các ống lồ ô để phục vụ việc nấu nướng, chuẩn bị đồ ăn thức uống. Những người cao tuổi và trung niên thì lo liệu việc dựng các túp lều xung quanh khu nhà mồ nhằm che nắng, che sương, làm chỗ ngả lưng qua đêm cho đông đảo dân làng đến dự.
Một nhóm người khác lại cùng nhau đào hố, chôn cột nêu kiên cố ngay sát cạnh nhà mồ về hướng mặt trời lặn.
Vào khoảng thời gian xế chiều, người ta dắt trâu (con vật dự kiến sẽ giết thịt làm lễ) đến buộc chặt vào thân cây nêu, đồng thời làm thịt heo, vác các ché rượu cần xếp thành một dãy dài ở phía mặt trời mọc của nhà mồ.
Đêm Hội Âm Nhạc Vang Dội Giữa Đại Ngàn Hoang Vắng
Khi mọi công tác chuẩn bị đã hoàn tất, các thanh niên trong plơi sẽ mở màn lễ hội bằng việc mang cồng chiêng, trống, thanh la ra tận khu mộ, đánh liên hồi nhằm đánh thức, gọi mời hồn người chết thức tỉnh về dự buổi chia ly lần cuối cùng với dòng họ, bản làng. Cùng thời điểm đó, người chủ nhà bước đến vị trí của ché rượu gốc (gọi là tơp aiphun), bày biện sẵn thịt heo, thịt gà rồi cất lời khấn gọi hồn ma. Tiếp theo, lần lượt từng thành viên trong các gia đình có người được làm lễ bỏ mả tiến đến khấn bái. Nam thanh niên khoác lên mình những tấm khố đính tua cườm rực rỡ, lưng thắt dây bạc, đầu cài lông chim bắt đầu nổi cồng chiêng, gõ trống lớn theo những giai điệu trầm buồn; ngược lại, các nữ thanh niên diện trang phục váy áo sặc sỡ có đính dải ngũ sắc, tay đeo vòng bạc, vừa di chuyển vừa thực hiện các động tác múa nhịp nhàng xoay quanh ngôi nhà mồ.
Mỗi khi tiếng trống lớn điểm nhịp vang lên, tiếng chiêng cái lại họa theo từng âm thanh trầm hùng, hòa cùng tiếng chiêng con khua lên rộn rã, tất cả tạo nên một bản nhạc rừng trầm bổng, du dương giữa không gian mùa xuân tràn trề nhựa sống. Khu nghĩa địa vốn dĩ hoang vắng, lạnh lẽo quanh năm, nơi thi thoảng chỉ có tiếng chim hót hay tiếng sột soạt từ những bước chạy của con chồn, con sóc, nay bỗng chốc trở nên náo nhiệt, tưng bừng bởi âm thanh cồng chiêng, tiếng trống và tiếng bước chân dồn dập hòa lẫn tiếng cười nói râm ran. Khi màn đêm buông xuống, ánh đuốc bập bùng từ khắp các ngả đường nối đuôi nhau ẩn hiện qua các tán cây lá, hướng về khu mộ từ nhiều lối. Người dân ở các plơi lân cận cũng nhân cơ hội này kéo sang góp vui bằng những ché rượu cần thơm ngon cùng nhiều món lễ vật. Mọi người đều sửa soạn quần áo đẹp nhất để đi hội, chủ đạo là sắc đỏ và đen truyền thống. Các thiếu nữ đeo thêm chiếc kiểng bạc lấp lánh ở cổ. Những dàn chiêng cổ thay nhau tấu lên các bài bản hay nhất, trong khi nam nữ thanh niên tay trong tay nhảy múa rộn ràng. Bất kỳ ai cảm thấy mệt mỏi có thể lui ra ngồi nghỉ, uống ngụm rượu cần rồi lại tiếp tục hòa mình vào cuộc vui suốt đêm cho tới tận sáng ngày hôm sau.
Ngày Thứ Hai: Đại Tiệc Cộng Cảm Và Sự Giải Phóng
Bước sang buổi sáng ngày thứ hai, các gia đình chủ lễ bỏ mả cắt cử người tiến hành giết trâu bò, làm thịt gà… ngay cạnh những bếp lửa “dã chiến” được nhóm lên tại khu đất bằng phẳng nằm gần ngôi mộ. Những chiếc chảo lớn chứa đầy thức ăn sôi sùng sục bên cạnh các ché rượu cần đầy ắp, sẵn sàng phục vụ thực khách.
Sau khi vị già làng cùng những người có uy tín, các thầy cúng nếm những ngụm rượu cần đầu tiên để khai tiệc, lớp thanh niên bắt đầu nhập cuộc chơi. Những xâu thịt nướng thơm phức, thịt trâu thui, lòng luộc, trứng, cùng các ống xôi nướng… được bày biện la liệt trên các tấm lá dong, lá chuối, hoặc trong bát đĩa đặt xung quanh các ché rượu cần. Ai vào việc nấy vô cùng nhịp nhàng: người lo khâu phục vụ thì chăm chỉ làm việc, người đánh chiêng, đánh trống cứ tiếp tục nổi nhạc, người múa cứ múa, người ăn uống cứ thỏa sức thỏa lòng. Vừa thưởng thức đồ ăn, vừa nhấm nháp rượu cần, vừa nhảy múa hát ca, mọi người thỏa sức vui chơi. Đây cũng chính là cơ hội thuận lợi để các chàng trai, cô gái có dịp xích lại gần nhau, cùng chung vui và tìm hiểu mến mộ nhau. Các cụ già vừa thưởng ngoạn các giọng ca, điệu múa đẹp, vừa chậm rãi nhai những miếng thịt nướng ngon lành, uống rượu cần và trò chuyện râm ran. Khi việc ăn uống tạm vơi, các gia đình chuẩn bị khấn vái với những ché rượu riêng của nhà mình. Người dân từ các plơi đến dự lễ tự tổ chức thành từng cụm nhỏ, trân trọng mời các gia chủ uống rượu phép và biếu phần thịt cho họ gói mang về trong từng gói nhỏ. Trong lúc đó, dân các plơi từ người già đến trẻ nhỏ cùng ra múa vòng quanh nhà mồ theo nhịp chiêng, tạo nên một không gian ăn uống và cộng cảm đầy gắn kết.
Đến lúc xế chiều, người ta dẫn những người góa (vợ hoặc chồng) ra con suối gần đó để tắm rửa sạch sẽ, thay những bộ trang phục mới thật đẹp theo đúng tục lệ, rồi đưa họ trở lại nhập vào cuộc vui, cùng nhảy múa với dân làng. Họ chính là những người được hoàn toàn giải phóng khỏi mọi ràng buộc với người quá cố kể từ giờ phút thiêng liêng này. Khi bóng tối sụp xuống, họ cùng nhau kéo nhau trở về nhà.
Kể từ ngày thứ ba trở đi cho đến ngày cuối cùng, hoạt động ăn uống và vui chơi chủ yếu được thu hẹp và tổ chức bên trong phạm vi từng gia đình. Phần việc sau cùng là tổ chức bữa tiệc đãi những thanh niên cùng những người phục vụ khác đã vất vả giúp đỡ trong suốt những ngày lễ hội diễn ra.
Ý Nghĩa Tâm Linh Và Tinh Thần Tương Thân Tương Ái
Lễ bỏ mả là một dịp sinh hoạt văn hóa vô cùng đông vui, mang đậm tính chất hội hè đặc trưng nơi núi rừng đại ngàn. Đối với những thân nhân của người đã khuất, Lễ bỏ mả đánh dấu “một cuộc chia tay vui vẻ” vì đã hoàn thành trọn vẹn phận sự của người ở lại. Ý niệm này được phản ánh một cách chân thực và rõ nét thông qua lời khấn nguyện của gia chủ:
“Thôi từ nay sẽ không còn ai mang cơm, mang nước, chăm sóc nữa. Nếu hồn muốn ăn cơm, thì xin hãy hỏi các vì sao, nếu muốn ăn thịt gà thì hỏi thần Mặt Trăng, nếu ăn cá xin hỏi thần Cai quản ở trên trời. Một vị thần khác sẽ đến trông nom. Thôi từ nay thế là hết. Như lá mnang đã lìa cành, như lá mtư đã tàn úa…”
Ngày nay, các cộng đồng dân tộc Giarai, Bahnar, Êđê vẫn duy trì bền vững lễ bỏ mả với tinh thần gắn kết cộng đồng rất cao. Họ cùng nhau tổ chức ăn uống, vui chơi cộng cảm trên cơ sở bình đẳng giữa mọi thành viên trong plơi. Đồng thời, ngày lễ cũng biểu hiện sinh động những nét đặc thù về mặt tín ngưỡng cùng cách thức tổ chức hệ thống lễ thức nghiêm ngặt. Có thể khẳng định, lễ bỏ mả nắm giữ một vị trí tối quan trọng, là một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của đồng bào nơi đây.
