Tín ngưỡng thờ thần và thành hoàng trong đời sống người Việt mỗi khi nhắc tới hệ thống đình, đền tại không gian Hà Nội, điều đầu tiên gợi nhớ chính là phong tục thờ tự các vị thần linh và thành hoàng. Đây là một dạng thức tín ngưỡng lâu đời của cộng đồng người Việt, đồng thời là dòng chảy văn hóa tâm linh từ thời kỳ cổ đại còn truyền lại cho tới ngày nay.
Bản Chất Nguyên Thủy Của Tín Ngưỡng Thờ Thần
Tín ngưỡng bản chất là một trạng thái tâm lý gắn liền với các hiện tượng tự nhiên cùng các vận động xã hội mà con người trực tiếp cảm nhận nhưng chưa thể giải thích một cách khoa học. Đứng trước những lực lượng siêu nhiên thiêng liêng và mạnh mẽ hơn mình, con người nảy sinh tâm lý e sợ, kính cẩn, từ đó cầu mong sự che chở, nâng đỡ. Theo quan điểm của Ăng-ghen (Angels), tín ngưỡng nguyên thủy chính là sản phẩm văn hóa xuất hiện do trình độ sản xuất còn sơ khai. Trong cuộc đấu tranh sinh tồn với tự nhiên, con người nảy sinh cảm giác sợ hãi, muốn nương tựa rồi thần thánh hóa các hiện tượng xung quanh. Họ lựa chọn một thực thể hoặc một sức mạnh tự nhiên làm đối tượng tôn sùng, nhằm giải quyết các mâu thuẫn giữa con người và tự nhiên, phục vụ cho quá trình lao động và sinh hoạt thường nhật.
Việc tôn kính thần linh cũng như thành hoàng của người Việt vốn bắt rễ từ nền tảng tín ngưỡng nguyên thủy này. Bên cạnh các hiện tượng tự nhiên, sức mạnh của những con người kiệt xuất cũng được thần thánh hóa thành các đấng thiêng liêng. Hệ thống thờ tự này phản ánh rõ nét tâm lý vừa Sợ vừa Kính của cư dân nông nghiệp trong xã hội truyền thống đối với những điều cao cả, huyền bí, hướng đến mục tiêu cầu mong cuộc sống no ấm, bình an. Tín ngưỡng này chưa phát triển thành một tôn giáo nhân tạo hoàn chỉnh bởi nó khuyết thiếu một đấng tối cao duy nhất, không xây dựng mô hình thế giới bên kia hay một xã hội lý tưởng. Cộng đồng chỉ cần thực hiện các nghi thức tôn kính thì những thực thể đáng Kính, đáng Sợ và Thiêng liêng ấy sẽ che chở, độ trì.
Nguồn Gốc Lịch Sử Và Sự Du Nhập Tục Thờ Thành Hoàng
Tục thờ thần vốn là tín ngưỡng bản địa sơ khai của người Việt, tồn tại vững chắc trước khi giai cấp phong kiến Trung Hoa du nhập khái niệm thờ thành hoàng vào nước ta từ thời nhà Đường. Dựa trên các thư tịch cổ Trung Hoa, từ thời cổ đại, cư dân phương Bắc đã thờ phụng thành hoàng với tư cách là vị thần bảo hộ thành trì cấp quốc gia, phủ, châu, huyện, xã cho đến thôn làng. Vị thần này có nhiệm vụ che chở cho quan lại cai trị lẫn thần dân cư ngụ bên trong thành lũy. Cuốn sách Trung Quốc thần bí văn hóa có ghi chép rõ: “Thành hoàng tức là thành hào, hào có nước gọi là trì, không có nước gọi là hoàng. Đắp đất làm thành, đào hào làm hoàng”.
Vào giai đoạn Bắc thuộc, cụ thể là năm 823, một viên quan đô hộ Trung Hoa tên là Lý Nguyên Gia khi tiến hành xây dựng La Thành đã dựng đền thờ thần Tô Lịch để làm thành hoàng bảo hộ cho tòa thành này. Đến năm 866, khi Cao Biền thực hiện tái thiết thành Đại La, viên quan này tiếp tục sắc phong cho thần Tô Lịch danh hiệu Đô Phủ Thành Hoàng Thần Quân.
Học giả Phan Kế Bính trong tác phẩm Việt Nam phong tục cũng phân tích về phong tục này, chỉ ra sự giao thoa giữa cội nguồn bản địa và yếu tố du nhập từ phương Bắc. Ông nhận định rằng, xét về tục thờ thành hoàng từ thời Tam Quốc trở về trước, triều đình chỉ thiết lập đàn cúng tế khi nhà vua có việc cầu đảo cụ thể. Sang tới thời nhà Đường, khi Lý Đức Dụ giữ ngôi tể tướng, miếu thờ thành hoàng mới bắt đầu được xây dựng tại Thành Đô. Kế tiếp đến thời Tống và thời Minh, đền miếu thờ thành hoàng xuất hiện khắp nơi trong thiên hạ. Nước ta trong giai đoạn nội thuộc đã tiếp nhận phong tục này truyền sang. Đến thời Đinh, thời Lê, việc thờ tự quỷ thần đã trở nên rất thịnh hành.
Dù vậy, khi xem xét ý niệm ban đầu, mỗi vùng đất vốn có các ngọn núi lớn, sông dài (danh sơn, đại xuyên), triều đình thiết lập miếu thờ các vị thần sông núi ấy để làm chủ tể việc an sinh, che chở cho một phương. Về sau, triều đình tiến hành biểu dương các bậc trung thần, nghĩa sĩ cùng những người có công lao lớn đối với giang sơn, cho lập đền thờ tại các địa phương gần nơi họ gắn bó để dân chúng phụng thờ. Từ đó, các làng xã dần bắt chước nhau, mỗi địa phương đều thờ một vị thần làm chủ tể tại đình làng. Làng nào có sẵn bậc anh hùng hào kiệt qua đời thì tôn thờ ngay người đó; làng nào không có thì tổ chức xin duệ hiệu hoặc rước một vị thần linh từ nơi khác về thờ phụng. Ngoài ra, có nơi dựa vào điềm mộng mị, việc bói toán, lời tà khẩu mà tin là linh dị rồi lập đền. Cũng có nơi do sự ngẫu nhiên mà coi là thiêng liêng rồi xin sắc phong về thờ. Kết cục là làng nào cũng xây đền, xã nào cũng dựng miếu. Thậm chí các làng xã mới thành lập thì việc đầu tiên nghĩ tới luôn là việc thờ thần.
Tâm thức chung của người dân được đúc kết qua quan niệm: đất có Thổ Công, sông có Hà Bá, mỗi vùng đất tất yếu phải có vị thành hoàng riêng để che chở, ủng hộ dân chúng, khiến cho việc phụng sự thần linh ngày một kính cẩn, tôn nghiêm hơn.
Sự Bản Địa Hóa Và Vai Trò Của Chính Quyền Phong Kiến Việt Nam
Các công trình nghiên cứu đều thống nhất rằng tín ngưỡng thờ thành hoàng du nhập vào Việt Nam trong thời kỳ Bắc thuộc. Tuy nhiên, làng xã Việt Nam bản chất không phải là các thành trì quân sự, và cư dân bản địa vốn sẵn có truyền thống thờ thần nguyên thủy. Khi đất nước giành được độc lập với ý thức tự chủ cao, các vương triều phong kiến Việt Nam đã tiếp quản, áp dụng phong tục thờ thành hoàng phương Bắc, kết hợp chặt chẽ với tục thờ thần bản địa, biến nó thành tín ngưỡng thờ thần thành hoàng đặc trưng của làng xã Việt Nam.
Đối chiếu với các bản thần tích cổ, khi hoàng đế Lý Thái Tổ dời đô về đất Đại La và đổi tên thành Thăng Long, ông đã phong sắc cho thần Tô Lịch làm Quốc Đô Thăng Long Thành Hoàng Đại Vương. Về sau, các vị vua nhà Trần tiếp tục ban thêm các mỹ tự như Bảo Quốc, Hiến Linh, Định Bang cho Thành Hoàng Tô Lịch. Theo ghi chép trong Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái, riêng đời Trần đã thực hiện sắc phong cho 25 vị thần. Sang thời Lê, đặc biệt là từ triều đại vua Lê Thánh Tông, việc ban sắc phong cho thần linh tại các địa phương được thực hiện một cách định kỳ, hệ thống thần phả, thần tích được lưu lại rõ ràng trên các bia đá hoặc văn bản hành chính. Đến thời nhà Nguyễn, hoạt động phong sắc thần tiếp tục được chú trọng thực hiện, tiêu biểu nhất là dưới các triều vua Minh Mệnh và Tự Đức.
Tín ngưỡng thờ thành hoàng dù mang hình thái ngoại lai nhưng lại chứa đựng một nội hàm bản địa sâu sắc của người Việt. Minh chứng rõ nét là các vị thần được tôn thờ tại đình làng phần lớn là các phúc thần nông nghiệp, hầu hết thuộc nhóm nhân thần. Làng Việt không có thành cao hào sâu, nên ban đầu không cần vị thần bảo vệ thành trì đúng như nguyên nghĩa từ Trung Hoa. Thế nhưng, sự gắn kết của những người nông dân trong cùng khu vực cư trú, cùng làm kinh tế nông nghiệp vốn phụ thuộc chặt chẽ vào tự nhiên trong bối cảnh khoa học chưa phát triển, đã thúc đẩy họ chia sẻ chung một niềm tin tâm linh. Họ cùng thờ phụng một hoặc nhiều vị thần và các thực thể này dần biến chuyển thành vị thần bảo hộ riêng của làng.
Khi giai cấp phong kiến Việt Nam thiết lập nền độc lập và quyết tâm xây dựng một quốc gia tự chủ, việc áp dụng hệ thống tín ngưỡng từ phương Bắc trở thành một công cụ quản lý cần thiết. Bước sang thế kỷ 15, giai đoạn chế độ phong kiến toàn thịnh, triều đình đã thể hiện sự thống nhất về quyền lực tối cao đến tận cấp làng xã bằng cách ban sắc phong cho các vị thần làng làm thành hoàng theo hệ thống thứ bậc nghiêm ngặt. Việc ban sắc phong này chính là giải pháp nhằm quy tụ, thâu tóm tinh khí của giang sơn vào tay chính quyền trung ương. Khi hoàng đế ban sắc phong cho thành hoàng các làng, vị thế tối cao của nhà vua đối với toàn thiên hạ được khẳng định tuyệt đối. Thành hoàng giữ vai trò chủ tể về mặt tinh thần của một làng, nhưng vị thần mà dân chúng thờ phụng vẫn phải nhận sắc phong từ thiên tử, tức là đứng dưới quyền vua. Qua đó, dân làng khi quy phục quyền uy của thành hoàng cũng đồng thời quy phục quyền lực của nhà vua. Sự kết hợp chặt chẽ giữa thần quyền và quân quyền chính là bệ đỡ vững chắc cho chế độ phong kiến nước ta suốt hàng nghìn năm.
Tiêu Chuẩn Sắc Phong Và Hệ Thống Phân Loại Thần Linh
Triều đình phong kiến thực hiện việc ban sắc phong cho các vị thành hoàng làng một cách có chọn lọc. Dựa trên thực tế thờ tự tại địa phương và theo tờ tâu đề nghị từ các quan lại sở tại, Bộ Lễ của triều đình sẽ xem xét phong sắc dựa trên hai tiêu chuẩn cốt lõi: một là có công phò vua bảo vệ vương triều (âm phù), hai là có công giúp đỡ dân làng lạc nghiệp, phát đạt và vượt qua các hoạn nạn. Việc xét công phò vua thường dựa trên các điềm báo mộng, chiêm bao của các tướng lĩnh được thần linh giúp đỡ đánh giặc, hoặc dựa vào các huyền thoại lưu truyền trong nhân gian (tiêu biểu như thần Đồng Cổ, thần Linh Lang…). Hoạt động ban phúc cho dân làng thì căn cứ vào truyền thuyết đời trước do các bộc lão, chức sắc địa phương tâu lên, nhiều trường hợp được gán ghép thêm công trạng để phù hợp với hình mẫu bầy tôi của nhà vua. Đối với các nhân vật lịch sử có thật như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo… công lao phò vua giúp nước là sự thật hiển nhiên không thể thêu dệt, triều đình chỉ gia phong thêm các yếu tố linh thiêng đối với đời sống dân làng. Hầu hết nội dung sắc phong cho thành hoàng ở các làng đều xuất hiện những câu mang tính khuôn mẫu như: “Thần rất anh dũng, thông minh tài giỏi, đánh giặc phù hộ đất nước, cứu giúp cho dân được bình an”. Riêng đối với các làng xã thờ các vị vua của triều đại trước làm thành hoàng (như Lê Đại Hành, Lý Thái Tổ…), các vương triều kế cận thường không tiến hành ban sắc phong mới.
Hành chính hóa một sắc phong của vua ban cho thành hoàng làng thường bao gồm các phần cố định:
- Địa danh hành chính nơi có vị thần được thờ tự.
- Danh tính vị thần kèm theo các mỹ hiệu được ban tặng (nhiều trường hợp không ghi tên thực của người được thờ).
- Chức danh thành hoàng được định chuẩn.
- Lời chuẩn y của nhà vua cho phép địa phương tiếp tục tôn thờ.
Các mỹ từ dùng trong sắc phong luôn hướng đến việc đề cao năng lực phi thường, sự hiển linh cùng danh hiệu tôn quý mà các triều đại liên tiếp gia phong. Hệ thống mỹ từ này cứ qua mỗi đời vua lại được nối dài thêm, có trường hợp tích lũy lên tới hàng trăm chữ như trường hợp của thần Bạch Mã.
Minh Chứng Từ Văn Bản Sắc Phong Cổ
Dưới đây là văn bản sắc phong do Bộ Lễ triều Lê ban cho thần Cao Sơn Quý Minh — một vị thần được thờ phụng tại nhiều địa phương ở Hà Nội và trên cả nước, trích từ tài liệu Bách thần lục:
Nguyên văn chữ Hán (phiên âm):
“Sắc chỉ:
Ban sắc hiệu thần Đại Đô Thành Hoàng Thiên hạ Sơn Tinh Tản Viên Quý Minh thánh vương đang tôn thần.
Sắc Quý Minh thánh vương Sơn Tinh Thành Hoàng hùng trấn anh linh tôn nghiêm chính thuận anh dục sơn xuyên tú chung hà hải cao phối thiên hậu phối địa, hộ quốc bảo dân hách quyết thanh trọc quyết linh âm phù quốc tộ hoàng đồ củng cố tân huệ thuỳ hưu tự vương tiến phong lễ hữu đăng trật.
Ngự chỉ nghi tứ thượng đẳng thần.
Nhưng chuẩn hứa Sơn Tây trấn, Lam Thao quận, Hoa Khê huyện Nguyên Xá tổng Thuỵ Biêu trang Thụy cầu trại phụng linh thần hữu phản hồi tự sự tương hựu bảo ngả lê dân.
Khảm thử.
Hồng Phúc nhị niên nhất nguyệt nhị thập nhật”.Dịch nghĩa:
“Sắc chỉ ban thần hiệu Đại Đô Thành Hoàng cho thiên hạ Sơn Tinh Tản Viên Quý Minh thánh vương các tôn thần.
Sắc phong Quý Minh thánh vương làm Sơn Tinh thành hoàng hùng trấn anh linh, tôn nghiêm, chính thuận, anh dục sơn xuyên tứ chung hà hải cao phối thiên, hậu phối địa, hộ quốc bảo dân, hách quyết thanh trọc quyết lỉnh, âm phù quốc tộ hoàng đồ củng cố, tân huệ thuỳ hưu. Các đời vua đã tấn phong, theo lề cần thăng trật.
Nay sắc phong thượng đẳng thần.
Vẫn cho dân trại Thủy Cầu, trang Thủy Biểu, tổng Nguyên Xá, quận Lâm Thao, trấn Sơn Tây, phụng lĩnh thần vị về thờ cúng để thần về phù hộ dân ta.
Khảm thử.
Hồng Phúc năm thứ hai ngày 20 tháng giêng.” (Năm Giáp Tuất – 1574).
Thực Tế Thờ Tự Tại Các Làng Xã Việt Nam
Trong đời sống tâm linh thực tế, không phải tất cả các vị thần được thờ phụng tại các đền, đình, làng xóm đều được triều đình phong kiến công nhận là thành hoàng làng. Bản thân một vị thần dù được thờ tại nhiều không gian khác nhau cũng không nghiễm nhiên nhận được sắc phong thành hoàng ở tất cả các nơi đó. Thậm chí, có trường hợp đặc biệt vị thần nhận được sắc phong thành hoàng từ triều đình nhưng dân làng lại không thờ phụng mà lựa chọn thờ một vị thần khác. Ngược lại, một làng xã có thể cùng lúc tôn thờ nhiều vị thành hoàng.
Tiêu biểu như thần Cao Sơn — vị thần theo thần tích được coi là một trong số 50 người con của Lạc Long Quân theo mẹ lên núi. Thần được thờ tự tại thôn Dịch Vọng Tiền (nay thuộc phường Cầu Giấy, Hà Nội). Trên phạm vi cả nước, thần Cao Sơn được thờ phụng tại 2.017 địa điểm trong các đền miếu, tuy nhiên tính đến nay mới chỉ có 1.771 nơi có sắc phong chính thức làm thành hoàng. Riêng xã Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, Hà Nội là nơi thờ phụng tới 5 vị thành hoàng.
Theo số liệu điền dã do nhà nghiên cứu Nguyễn Duy Hinh công bố trong tác phẩm Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam (trang 63): Giáp Vĩ Hậu thuộc Dịch Vọng Tiền thờ thần Cao Sơn, đình làng Dịch Vọng thờ Lý Phật Tử. Các giáp Bối Hà, Thọ Tháp thuộc Dịch Vọng Trung tổ chức thờ Triệu Túc; giáp Tăng Phúc thuộc Dịch Vọng Tiền thờ Đỗ Bảo; giáp Thọ Cầu ở Dịch Vọng Trung thờ Linh Lang và Chu Rí. Bên cạnh đó, địa phương này còn thờ phụng các vị Phương Lang, Cao Quốc và Đại Điên. Một trường hợp đặc biệt khác là làng Đồng Kỵ thuộc huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh trước đây vốn thờ một vị thần gắn liền với câu chuyện gắp phân bằng chiếc giành tre mạ vàng, nhưng hiện nay vị thành hoàng chính thức của làng lại là Thiên Cương Đế.
Phân Hạng Phúc Thần Theo Quan Điểm Học Giả
Khi đánh giá về các vị thần và thành hoàng được thờ phụng ở làng xã, tác giả Phan Kế Bính trong tác phẩm Việt Nam phong tục (trang 94) đã thực hiện phân loại dựa trên đẳng cấp sắc phong của triều đình:
Mỗi làng xã phụng sự một vị thành hoàng, có làng thờ 2 đến 3 vị, có làng thờ từ 5 đến 7 vị, tất cả đều được gọi chung là phúc thần. Hệ thống phúc thần được chia làm 3 hạng rõ rệt:
- Thượng đẳng thần: Gồm các vị thần sông lớn, núi cao (danh sơn, đại xuyên) cùng các vị thiên thần có sự tích linh dị như Đổng Thiên Vương (Thánh Gióng), Sóc Thiên Vương, Chử Đồng Tử, Thánh Mẫu Liễu Hạnh… Các vị này sở hữu hành trạng huyền bí, không rõ tung tích ẩn hiện cụ thể nên gọi là thiên thần. Nhóm thứ hai thuộc Thượng đẳng thần là các vị nhân thần có thật trong lịch sử như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo… Khi còn sống, họ lập đại công lao với dân tộc và đất nước; khi qua đời, họ được nhà vua biểu dương công trạng cho lập đền thờ, hoặc được nhân dân vì nhớ ơn công đức mà tự nguyện thờ phụng. Các bậc này đều có danh tính rõ ràng, sự nghiệp hiển hách, được các triều đại liên tiếp ban mĩ tự bao phong làm Thượng đẳng thần.
- Trung đẳng thần: Là những vị thần đã được dân làng thờ phụng từ lâu đời, có họ tên rõ ràng nhưng công trạng chưa thật tường minh; hoặc là những người có quan tước, chức vị nhưng hành trạng, danh tính cụ thể lại bị mờ nhạt theo thời gian. Ngoài ra, nhóm này còn bao gồm cả những vị thần mang chút linh dị, khi triều đình cử quan lại đến lập đàn cầu đảo mưa thuận gió hòa thấy có ứng nghiệm, sẽ được nhà vua liệt vào tự điển phong làm Trung đẳng thần.
- Hạ đẳng thần: Gồm những vị thần được dân chúng địa phương lập đền thờ phụng nhưng không rõ sự tích, nguồn gốc ra sao. Tuy nhiên, vì họ thuộc về bậc chính thần, triều đình cũng sẽ thuận theo nguyện vọng và lòng tin của dân chúng mà ban sắc phong làm Hạ đẳng thần.
Bên cạnh 3 bậc chính thần nêu trên, trong dân gian còn tồn tại nhiều địa phương thờ tự các thực thể khác theo tâm lý mê tín, dân gian gọi là tà thần, yêu thần hoặc đê tiện thần (như thần bán lợn, thần trẻ con, thần ăn xin, thần chết nghẹn, thần tà dâm, thần rắn, thần rết…). Các hạng này xuất phát từ sự tin tưởng mù quáng của một bộ phận cư dân chứ hoàn toàn không được liệt vào tự điển nhà nước và không nhận được bất kỳ sắc phong hay phong tặng nào từ triều đình.
Tổng Kết Hệ Thống Thờ Tự Trong Nghiên Cứu Hiện Đại
Dựa trên các góc nhìn nghiên cứu ngày nay về hệ thống thần linh và thành hoàng tại các không gian đình, đền, miếu…, chúng ta có thể quy nạp thành hai nhóm đối tượng cơ bản:
- Nhóm thứ nhất: Gồm những nhân vật bước ra từ truyền thuyết, huyền thoại gắn liền với thời kỳ cổ đại của dân tộc, tiêu biểu như Đức Thánh Tản Viên, Đức Thánh Gióng…
- Nhóm thứ hai: Gồm những nhân vật lịch sử có danh tính, hành trạng xác thực được ghi chép rõ ràng trong chính sử hoặc dã sử như Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo cùng các danh tướng qua các triều đại. Bên cạnh đó, những vị thần dù không mang tầm ảnh hưởng toàn quốc nhưng có công lao to lớn với một vùng dân cư cụ thể trong việc khai hoang lập ấp, đắp đê trị thủy hay truyền dạy ngành nghề thủ công truyền thống cũng được xếp vào nhóm nhân thần này.
