Ý nghĩa và lịch sử quả chuông trong văn hóa thờ tự cổ truyền tại các không gian di tích cổ truyền của người Việt chủ yếu được bài trí và sử dụng tại các ngôi chùa Phật giáo. Tuy nhiên, trong tiến trình phát triển lịch sử, hiện vật này cũng đã xuất hiện ở cả những ngôi quán thuộc đạo Lão, và giai đoạn gần đây là tại các ngôi đền cùng phủ thờ Mẫu… Trong hệ thống chuông phổ biến, chúng thường được phân chia thành nhiều chủng loại khác nhau, tiêu biểu như đại hồng chung, bảo chúng chung, hay gia trì chung…
Xét về phương diện kiểu dáng tạo hình, những loại chuông nói trên sở hữu nhiều dạng thức khác biệt, nhưng phổ biến nhất vẫn là dạng cấu trúc có phần quai treo tạo hình rồng kết hợp cùng thân chuông dáng trụ tròn. Từ giai đoạn thế kỷ XVIII trở về trước, chuông chủ yếu được đúc theo lối “thượng thu hạ thách” (phần trên thon nhỏ, phần dưới nở rộng). Kể từ triều đại vua Minh Mạng trở về sau, phần lớn các quả chuông lại được chế tác theo phom dáng hình trụ dài. Những quả chuông xuất hiện từ thời kỳ Bắc thuộc thông thường tuân theo quy chuẩn kiểu Trung Hoa và rất ít khi có vành loe ở miệng.
Cổ vật quả chuông có niên đại sớm nhất trên mảnh đất Việt được phát hiện cho đến nay thuộc về chùa Thanh Mai, nằm ven bờ tả ngạn sông Đáy thuộc địa phận Thanh Oai, Hà Tây cũ. Quả chuông này ghi nhận mốc thời gian cụ thể vào năm 798, có kích thước vừa phải với chiều cao xấp xỉ 70cm. Phần quai chuông được tạo tác thành hình đôi rồng hai đầu chạy dài sang hai bên. Đây cũng được xem là một trong những cặp rồng xuất hiện sớm nhất trong nền nghệ thuật tạo hình Việt Nam, mang phong cách mỹ thuật đồng điệu với hình tượng rồng trên các tấm bia đá thời Tùy hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử (được phát hiện ở Thanh Hóa). Trên đỉnh của chuông Thanh Mai xuất hiện các vành tròn nhỏ với đường kính chừng 1cm, có chấm nổi ở chính giữa, mang nét tương đồng với hệ thống hoa văn đặc trưng của thời kỳ văn hóa đồ đồng Đông Sơn. Dáng chuông làm theo lối thượng thu hạ thách và không có vành loe, phần nào phản ánh sự gần gũi với phong cách chuông Trung Hoa.
Quả chuông cổ thứ hai được đúc vào giai đoạn cuối thời nhà Đường, sở hữu niên đại cụ thể vào thế kỷ thứ X. Hiện nay, báu vật này đang được lưu giữ trang trọng tại một ngôi đình nhỏ nằm sát chân cầu Thăng Long, thuộc khu vực hữu ngạn sông Hồng.
Quả chuông thứ ba là chuông chùa Vân Bản ở Đồ Sơn, được chế tác vào khoảng thời nhà Trần. Đây là một quả chuông có kích thước khá lớn và tạm thời được giới nghiên cứu coi là hiện vật mở đầu cho một phom dáng chuông thuần Việt. Phần cù lao chuông là hình ảnh đôi rồng mang đậm dấu ấn nghệ thuật của thế kỷ XIII và XIV. Dáng chuông hình trụ với phần vai tròn, trên thon dưới nở, khu vực miệng chuông có phần gờ loe ra, thân chuông dài cùng phần thành chuông dày dặn, giúp tạo nên tiếng chuông ấm áp, ngân trầm và vang xa. Quả chuông có chiều cao hơn 1m và là một cổ vật may mắn còn sót lại sau một khoảng thời gian dài bị vùi lấp dưới lòng nước. Bước sang thời Lê sơ vào thế kỷ XV, giới nghiên cứu vẫn chưa tìm thấy một hiện vật chuông nào, do đó xếp sau chuông chùa Vân Bản chính là các quả chuông thuộc thời nhà Mạc. Tại Hà Nội ngày nay vẫn còn lưu giữ được một quả chuông lớn có niên đại cụ thể vào đời vua Mạc Mậu Hợp (năm 1574), chiều cao cũng vượt trên 1m nhưng phom dáng có phần thon gọn hơn so với chuông thời Trần. Vào những năm đầu thế kỷ XVII, khi phải rút lui lên vùng Cao Bằng, nhà Mạc cũng đã cho đúc hai quả chuông lớn tuân theo phong cách nghệ thuật truyền thống. Cũng trong khoảng thời gian này, lịch sử ghi nhận sự xuất hiện của hai quả chuông rất đặc sắc. Quả thứ nhất thuộc về chùa Đại Bi (Hoài Đức – Hà Tây) được đúc vào năm Hoàng Định thứ 14, tức năm 1613. Hiện vật này có kích thước khá lớn, phần quai chuông tạo hình rồng vẫn mang đậm dư ba của phong cách thời Mạc, vai chuông thon, miệng chuông hơi loe, thân chuông mập mạp chứ không thon dài. Với chiều cao trên 1m, đây là quả chuông đạt giá trị đỉnh cao về cả mặt nghệ thuật lẫn niên đại. Đến năm 1619, một quả chuông khác có sự tương đồng hoàn chỉnh về cả kiểu dáng, hoa văn trang trí lẫn kích thước đã được chế tác tại Hưng Thánh quán (tức chùa Mui, huyện Thường Tín – Hà Tây). Ngoài ra, một quả chuông lớn đúc vào năm 1632 cũng đã được tìm thấy tại huyện Thuận Thành – Bắc Ninh, có kích thước tương đương với chuông chùa Mui.
Vào nửa cuối thế kỷ XVII, hàng loạt quả chuông khác đã được tìm thấy tại chùa Keo (Thái Bình), chùa Thầy (Hà Tây), chùa Quả Cảm (Đáp Cầu – Bắc Ninh)… Đây là những chứng tích hiếm hoi nối dài mạch nguồn truyền thống của chuông Việt. Sau giai đoạn này, đặc biệt là trong thời kỳ diễn ra các cuộc chiến tranh nông dân ở thế kỷ XVIII, triều đình đã thực hiện chính sách tịch thu, gom chuông cổ để lấy chất liệu đồng đúc tiền tệ hoặc phục vụ các mục đích khác, khiến lượng chuông cổ bị phá hủy, tiêu tán rất nhiều. Đến đời Cảnh Thịnh, nhân dân tại nhiều bản tự đã cùng nhau đúc lại chuông, chính vì thế mà ngày nay chúng ta bắt gặp khá nhiều hiện vật mang niên đại triều vua này. Thời kỳ này sở hữu nhiều quả chuông lớn và rất đẹp, điển hình như ở chùa Phổ Quang (nằm ven sông Hồng giáp ranh Hà Nội, thuộc Văn Giang – Hưng Yên) hay tại Lâm Dương quán (Đa Sĩ – thị xã Hà Đông).
Dưới triều vua Gia Long vào đầu thế kỷ XIX, việc đúc chuông tiếp tục được nhân dân duy trì, tuy nhiên các quả chuông đại hồng chung có kích thước lớn thường chỉ được tập trung đúc vào đời vua Minh Mạng và giai đoạn đầu đời vua Tự Đức, về sau này loại chuông này chủ yếu chỉ có kích cỡ trung bình. Tính từ thế kỷ XVIII trở lại đây, một trong những quả chuông nổi tiếng nhất phải kể đến chuông chùa Thiên Mụ với chiều cao vượt trên 2m, sở hữu kiểu dáng tuyệt đẹp và chứa đựng nhiều tầng nghĩa triết học phương Đông sâu sắc. Quả chuông cùng hệ thống hoa văn trang trí trên thân đã thể hiện rõ nét sự dung hợp hài hòa giữa hai hệ tư tưởng Phật giáo và Nho giáo. Sang đầu thế kỷ XIX, một hiện vật chuông lớn mang giá trị mỹ thuật cao khác là chuông ở chùa Quảng Bá – Tây Hồ (Hà Nội), cùng với hai quả chuông đang được treo tại lầu Ngọ Môn (Huế). Đáng tiếc là nhiều quả chuông cỡ đại của thời nhà Nguyễn đã bị hủy hoại do khói lửa chiến tranh. Tiếp sau giai đoạn này, một quả chuông được ghi nhận là vô cùng đồ sộ với chiều cao trên 3m, mang nhiều hoa văn trang trí nổi chứa đựng triết lý Phật giáo thâm sâu chính là chuông chùa Cổ Lễ (Nam Định). Trong đời sống hiện nay, người dân cũng tự phát tâm đúc chuông rất nhiều nhằm biểu thị lòng tôn sùng đối với đạo Phật.
Nhìn một cách tổng thể, bố cục của chuông Việt tuy mỗi thời kỳ lịch sử có một phom dáng khác nhau, nhưng thường quy về sự thống nhất ở ba bộ phận chính. Phần trên cùng là quai chuông với hình ảnh đôi rồng chụm đuôi vào nhau rồi chạy thoai thoải ra hai bên, phần đầu ngóc cao, ngực và hai chân trước bấu chặt lấy đỉnh chuông. Thân chuông chiếm diện tích lớn nhất, thường được phân định rõ ràng thành bốn ô vuông lớn để khắc bài minh nói về cảnh trí của ngôi chùa, về giá trị tâm linh của tiếng chuông, đồng thời lưu danh những người phát tâm công đức cùng niên đại đúc chuông. Phần phía dưới của thân chuông tính từ vị trí núm gõ trở xuống chiếm một tỷ lệ nhỏ, chỉ tương đương một phần ba so với thân trên, đây cũng là nơi khắc tên người công đức hoặc đúc nổi các đề tài trang trí như bộ tứ linh, đồ bát bửu hay các hoa văn khác. Dưới cùng là vành miệng chuông loe rộng, thường được các nghệ nhân đúc nổi cánh sen hoặc các họa tiết hình sóng nước, sóng bạc đầu, quả lôi, hay cây thiên mệnh…
Ý nghĩa triết lý và công năng của tiếng chuông trong đời sống tâm linh
Về nguồn gốc nguyên thủy của chiếc chuông chùa, cho đến nay vẫn chưa có nguồn tài liệu nào khẳng định một cách chân xác. Theo như ghi chép trong kinh “Tăng Nhất A Hàm”, mỗi khi tiếng chuông chùa ngân vang thì những hình phạt khốc liệt nơi các âm đạo tạm thời được dừng nghỉ, giúp cho những chúng sinh đang phải chịu tội khổ tại đó có được những giây phút yên vui, nhẹ nhõm ngắn ngủi.
Trong sách Cảm thông truyện cũng có đoạn chép lại rằng: thuở xưa khi Đức Phật Câu Lưu Tôn ngự tại viện Tu Đà La thuộc xứ Càn Trúc, ngài đã cho tạo tác một quả chuông bằng chất liệu đá xanh và thường đánh vào thời điểm mặt trời vừa ló rạng. Mỗi khi tiếng chuông đá ấy vang lên, trong ánh hào quang của mặt trời sẽ có các vị hóa Phật hiện thân để diễn thuyết 12 bộ kinh, giúp cho lượng người nghe chứng đắc thánh quả nhiều không kể xiết.
Trong bộ Kim Cang chí có lưu lại điển tích: Đường Hiếu Cao hoàng đế do nghe theo lời sàm tấu sai quấy của Tông Tề Khưu nên đã giết nhầm một bậc trung lương tên là Hòa Châu, chính vì tội lỗi này nên sau khi băng hà, nhà vua bị đọa xuống địa ngục. Một ngày nọ, có một người bị bạo tử (chết đột ngột) khiến linh hồn đi lạc vào chốn địa ngục đó. Tại đây, người này chứng kiến một tội nhân đang bị gông cùm, kìm kẹp và đánh đập vô cùng đau đớn, hỏi ra thì mới biết đó chính là vua Hiếu Cao thời Đường. Nhà vua liền gọi hồn người bạo tử ấy lại và dặn dò: Nhờ ngươi khi trở lại dương thế hãy nhắn bảo với vị hậu chúa của ta rằng hãy vì ta mà đúc chuông cúng dường, đồng thời làm thêm các việc phước thiện tích đức. Khi sống lại nơi trần gian, người bạo tử liền đến bái yết hậu chúa và truyền đạt lại toàn bộ lời nhắn nhủ của tiên đế. Nghe xong câu chuyện, hậu chúa đã đích thân đến chùa Thanh Lương phát nguyện đúc một quả chuông lớn để cúng dường, cầu siêu độ cho vong linh của Hiếu Cao hoàng đế. Đồng thời, trong kinh Lăng Nghiêm, Đức Phật cũng từng bảo ngài La Hầu La đánh chuông để thuyết giảng về giáo lý viên thường cho ngài A Nan nghe. Qua những điển tích này, chúng ta hiểu rằng chuông đã xuất hiện từ thuở Đức Thế Tôn còn tại thế.
Chuông là một loại hình tự khí, một di vật cổ vô giá chứa đựng những tầng ý nghĩa vô cùng sâu sắc về lẽ đạo. “Đại hồng chung” là danh xưng dành cho quả chuông lớn và chính yếu của ngôi chùa, thường được treo trang trọng tại gác chuông riêng biệt hoặc ở phần đầu hồi trong tòa tiền đường, nhiều nơi còn gọi đây là chuông u minh. Loại chuông này thường được thỉnh vào thời điểm chập tối (chuông thu không) và lúc cuối đêm khi trời rạng sáng. Tiếng chuông thu không buổi chập tối vang lên giống như lời nhắc nhở rằng cơn vô thường của đời người sẽ đến rất nhanh chóng. Người Phật tử mỗi khi lắng nghe tiếng chuông chiều sẽ cảm thấy cõi lòng nhẹ nhàng, thanh thản như đang đứng bên bờ của sự giác ngộ. Trong khi đó, tiếng chuông thỉnh vào lúc cuối đêm rạng sáng lại mang ý nghĩa thức tỉnh tâm thức, thúc giục con người tinh tiến tu tập để mau chóng vượt ra khỏi những tội lỗi tối tăm, đau khổ của kiếp sống luân hồi. Cả hai thời điểm thỉnh chuông thu không và chuông cảnh tỉnh đều được đánh đủ 108 tiếng trải dài qua ba hồi, mỗi hồi gồm 35 tiếng và cộng thêm 3 tiếng kết thúc hòa cùng lời cầu nguyện thanh tịnh của chính vị sư thầy. Phương pháp thỉnh chuông này nhằm mục đích loại bỏ 108 phiền não căn bản của chúng sinh, đồng thời giúp cho tâm trí và trí tuệ ngày một tăng trưởng.
“Bảo chúng chung”, hay còn được gọi với tên khác là Tàng đường chung, là loại chuông có kích thước nhỏ dùng để phát ra tín hiệu báo tin nhóm họp đại chúng, hoặc báo giờ thụ trai, giờ vào khóa lễ… trong các tự viện.
“Gia trì chung” là loại chuông được sử dụng để đánh trong các trường hợp gắn liền với các câu kinh cầu nguyện, dùng để ra hiệu khi bắt đầu hoặc lúc chấm dứt một buổi lễ tụng kinh. Đồng thời, hiện vật này cũng đóng vai trò điều hòa nhịp điệu cho người tụng kinh niệm Phật được nhịp nhàng, đều đặn, hướng tâm trí con người chú tâm hoàn toàn vào con đường duy nhất là trí tâm. Chuông gia trì thông thường được đặt ở vị trí phía trước bàn thờ, mang hình dáng cấu tạo tương tự như chiếc bát khất thực của nhà sư, kích thước to nhỏ không cố định và luôn được kê đặt trên một chiếc đế tròn bằng vải cuộn chứ ít khi thiết kế theo kiểu treo.
