Thuật chọn thế đất và chuyện cây cỏ nơi chốn chùa cổ

Thuật chọn thế đất và chuyện cây cỏ nơi chốn chùa cổ ,người trong nghề chúng tôi, hay cả những người hay đi hội đi lễ, thường rỉ tai nhau rằng những ngôi chùa cổ luôn có một sức linh nhất định mà rất ít ngôi chùa mới ngày nay có được. Cái sự linh thiêng ấy, nói xuôi nói ngược, không đơn thuần là câu chuyện tâm thức con người cứ dày lên theo năm tháng. Lật lại những ghi chép tản mạn và cái trải nghiệm của những người cả đời gắn bó với kiến trúc cổ như chúng tôi, gốc rễ vấn đề còn nằm ở nhiều sự kiện khác.

Các cụ xưa tin rằng, vốn Trời tối thượng là một thực thể tuyệt đối, là linh hồn của vũ trụ và là chúa của nguồn sinh lực tiềm ẩn vô biên. Chỉ khi cái dòng sinh lực này tuôn chảy xuống lòng đất mẹ, thì muôn hồng nghìn tía, mọi sinh vật mới được nảy sinh và phát triển. Thế nhưng, dòng chảy này không rải đều chỗ nào cũng như chỗ nào, mà nó lệ thuộc vào những điều kiện nhất định. Tiếc là những chiêm nghiệm cổ truyền mang tính “bất khả tư nghị” ấy đã bị tàn phai dần theo dòng lịch sử. Đến thế hệ chúng tôi bây giờ, người ta chỉ còn mường tượng được đôi nét qua cách nhìn nhận thế đất.


Thế Đất Nơi Linh Địa và Mối Duyên Với Nước

Nhìn bằng mắt thường, cái hay của thế đất linh địa trước hết phải là vùng đất tươi tốt, cao ráo, sáng sủa và đẹp đẽ. Đứng ở đấy, sức sống dồi dào, con người tự khắc cảm thấy sảng khoái, yên ổn trong lòng. Người làm nghề hiểu rằng, đó chính là chỗ hút được sinh lực của tầng trên.

Bên cạnh đó, do gắn liền với tư duy nông nghiệp ăn sâu vào máu thịt, hầu như mọi kiến trúc tôn giáo xưa đều phải có mối liên quan chặt chẽ tới yếu tố nước. Có thể là một dòng chảy từ bên phải qua bên trái ở trước mặt (gần hay xa chỉ mang tính tương đối), hoặc dòng chảy ở bên cạnh mà chủ yếu là nằm bên phải. Cũng có khi, chính những chủ nhân của di tích tự tay đào hồ hoặc giếng, khi thì hình tròn, hình vuông, lúc lại uốn theo hình bán nguyệt.

Nói thì dễ nhưng khi đặt nhát đục đầu tiên hay chọn thế đất dựng chùa, các cụ xưa đều cân nhắc kỹ cái gốc của nước. Nước là khởi đầu của mọi nguồn hạnh phúc nông nghiệp. Vì nước ở thấp nên mang yếu tố âm, còn di tích nổi cao lên thì được coi là yếu tố dương. Cả hai hợp thể lại thành một cặp âm dương đối đãi, gửi gắm ước vọng thông qua thần linh để làm cái gợi ý cho muôn loài sinh sôi phát triển.

Thường thì trước mặt chùa phải quang quẻ. Nếu có các gò đống chầu về (dù gò đống có thể ở khá xa nhưng mắt thường phải nhìn thấy) thì đó được coi như biểu hiện quy phụ Phật Pháp của mọi lực lượng thế gian. Để địa thế tăng thêm chất linh, người ta còn nhìn hình thể đất mà quy ra ngôi chùa ấy đang nằm trên linh vật nào, nằm ở phần đầu hay phần lưng. Từ cái thế đất ấy, người xưa đoán định về vận mệnh và một số vấn đề liên quan của cả làng, cả vùng.


Chuyện Chọn Hướng Chùa: Nam, Tây, Đông, Bắc

Chọn được đất rồi thì phải hợp hướng. Phổ biến nhất vẫn là hướng Nam (trải từ Đông Nam tới Tây Nam) và hướng Tây.

### Hướng Nam: Hướng Của Đức Từ Bi Và Trí Tuệ

Người Việt mình có câu nằm lòng: “Lấy vợ hiền hoà, làm nhà hướng Nam”. Cái hướng này mát về mùa hè mà lại ấm về mùa đông. Nhưng đào sâu hơn, do phần nào ảnh hưởng của người phương Bắc, hướng Nam được xem là đầy dương tính, sáng sủa. Đây cũng là hướng của bậc đế vương: “Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ” (Thánh nhân quay mặt về hướng Nam mà nghe lời tâu bày của thiên hạ).

Còn với ngôi chùa cổ, hướng Nam mang ý nghĩa các đức Phật và Bồ Tát ngồi quay hướng Nam để nghe lời kêu cứu của chúng sinh trong kiếp đời tục lụy. Từ đó, các Ngài dùng pháp lực vô lượng vô biên qua tứ đại vô lượng tâm gồm Từ, Bi, Hỷ, Xả mà cứu vớt. Đồng thời, phương Nam còn là phương của Bát Nhã, tức là trí tuệ – cái đích cứu cánh của Phật đạo.

### Hướng Tây: Sự Vận Hành Ổn Định Của Âm Dương

Người ta tin rằng hướng Tây là hướng ổn định nhất vì nó hợp với sự vận hành của âm dương, khiến cho thần linh không rời bỏ nghĩa vụ vì chúng sinh đau khổ. Thử nhìn mà xem: mặt trước mang phần dương tính mà quay hướng Tây thuộc âm là hợp; phần lưng thần là âm quay hướng Đông thuộc dương là hợp; tay trái thuộc âm đi với hướng Nam thuộc dương, tay phải thuộc dương lại đi với hướng Bắc thuộc âm.

### Hướng Đông và Hướng Bắc: Những Trường Hợp Ngoại Lệ

Cũng có khi người ta dựng chùa quay hướng Đông – hướng của các thần. Hướng này phù hợp với các ngôi chùa của dòng Tiểu thừa, thường thấy ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, chứ đất Bắc Bộ chúng tôi thì hiếm khi gặp. Hoặc đôi khi chùa quay hướng Bắc, nhưng trong trường hợp này, ngôi chùa (hoặc kiến trúc tôn giáo khác) hầu như đều tự chứa đựng trong nó một sự tích riêng biệt biệt rồi.


Năm Loại Cây Cổ Thụ Mang Triết Học Phật Giáo Nơi Cửa Thiền

Cùng với thế đất, người Việt mình còn đặc biệt quan tâm tới cây cổ thụ trồng trong khuôn viên. Trong đó nổi lên một số loài cây mà theo quan niệm dân gian là mang đậm yếu tố triết học Phật giáo:

  • Cây Bồ Đề: Biểu tượng tuyệt đối của sự giác ngộ Phật pháp. Gốc chữ Phật là Bodhi, nên chữ Bouddha là để chỉ về người giác ngộ giáo lý nhà Phật. Phật thoại ghi rõ khi đức Thích Ca thành đạo, Ngài đã ngồi thiền định dưới cội Bồ Đề. Trong khuôn viên chùa Việt, cây Bồ Đề đóng vai trò như một yếu tố thức tỉnh chúng sinh. Nhắc nhở rằng trước khi bước chân vào đất Phật, cần dọn mình cho tâm thanh lòng tĩnh, nhờ đó Tuệ sinh mới khai mở được chân tâm vi diệu để thấy Như Lai.
  • Cây Đại (Cây Sứ): Đây là loại cây Thiên Mệnh. Cái lạ của cây này là vào mùa trút lá, những cành cây trơ trọi vươn lên tầng cao nhìn như đang hút sinh lực của bầu trời để truyền xuống cho đất và nước, giúp cuộc sống của muôn loài ngày một phát triển.
  • Cây Muỗm: Loài cây cao lớn, tán lá um tùm này thường được dùng để lấy bóng mát. Nhưng ở một chừng mực nào đó thuộc cõi tâm linh, cây Muỗm mang tư cách là nơi các linh hồn bơ vơ thường trú ngụ để nghe kinh kệ mà siêu sinh tịnh độ.
  • Cây Mít: Thường được trồng ở phía sau chùa, đôi khi cũng thấy ở phía trước. Tiếng Phạn gọi là Paramita (Ba la mật đa), nghĩa là “Cứu cánh đáo bỉ ngạn”, là Độ – tức giáo hoá chúng sinh đưa sang bến bờ của giác ngộ, đưa tới niết bàn giải thoát. Chính vì vậy, khi người thợ chúng tôi lấy gỗ Mít tạc tượng, là muốn thông qua đó nêu lên sự giải thoát trên toàn thể và trong tâm của các vị Phật, Bồ Tát.
  • Cây Gạo: Loài cây này ít được sử dụng hơn, đôi khi chỉ thấy gắn với những ngôi chùa mang cả yếu tố đền thờ Thần, thờ Thánh như chùa Thầy ở Hà Tây cũ. Cây gạo được coi như một “Trục vũ trụ” nối liền đất và trời. Nó từng xuất hiện trong lễ đâm trâu để thầy Mo xuất thần, cưỡi hồn trâu theo cây mà lên trời tiếp cận thần linh. Ở chùa Thầy, các cụ già còn kể rằng cây có gốc bám trong đất, cành lá chạm tới trời, hoa đỏ rực như tinh tú, thân cây chính là trục nối, là đường đi về của thần linh với những cái gai nhô ra như những bậc thang lên xuống.

Kiến Trúc Chùa Việt Trong Không Gian Cảnh Quan

Tất nhiên, trên đất chùa còn nhiều loại cây lớn khác được trồng tùy theo nhu cầu của cuộc sống đời thường. Trong toàn bộ ngôi cảnh này, ngôi chùa luôn được đặt ở vị trí trung tâm. Đó là một kiến trúc hoặc một quần thể kiến trúc dàn trải theo hình to nhỏ tùy thuộc vào gốc gác hình thành của nó.

Chùa làng thì ít gian, quy mô nhỏ nhắn. Chùa có sự hỗ trợ của tầng lớp trên hoặc có sự tham gia của tầng lớp phi nông dân thì có phần lớn hơn. Song về cơ bản, cũng như nhiều di tích cổ khác, ngôi chùa Việt vẫn có xu hướng mở rộng theo mặt bằng chứ không vươn theo chiều cao, và sở hữu kết cấu phần nhiều là thống nhất, cụ thể là thể hiện rõ ở các bộ “Vì”.