Dấu vết thời gian và địa bàn phân bố của ngôi chùa Việt cổ Từ thời Ngô Quyền đóng đô ở Cổ Loa, đến nhà Đinh, nhà Lê chọn đất Hoa Lư, rồi Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long, biết bao lầu các, điện thờ nguy nga đã được dựng lên. Đời sau nối gót đời trước, cứ thế mà tạo tác công trình theo ý nguyện riêng. Thế nhưng, cái thực tế phũ phàng là hầu hết những công trình tưởng như huy hoàng ấy đến nay đã tan thành mây khói. Người trong nghề chúng tôi ngày nay, khi muốn tìm lại cái hình cái bóng của kiến trúc cổ, rốt cuộc vẫn phải dựa một phần lớn vào sự suy diễn từ những trang sách cũ. Mà đã là suy diễn, nếu thiếu đi sự am tường về bối cảnh lịch sử, thì khó tránh khỏi những cái nhìn lệch lạc.
Nhiều người hay tự hỏi: Vì cớ gì mà phần lớn những di tích cổ ấy lại mất dạng? Người thì đổ lỗi cho triều đại sau phá hủy công trình triều đại trước; người lại bảo do thời tiết mình khắc nghiệt quá, mưa dầm, nắng dãi, khí hậu nóng ẩm, gió bão sinh ra mối mọt mốc meo; rồi cả chuyện giặc Minh tàn phá trong những năm tháng thi hành chính sách đồng hóa ác độc… Những lý do ấy nghe qua đều có lý cả. Nhưng suy cho cùng, có ai biết chính xác những công trình ấy đã được dựng lên và ngã xuống trong những hoàn cảnh cụ thể như thế nào đâu?
Bây giờ, muốn bàn về kiến trúc ngôi chùa cổ, chúng ta chỉ biết bấu víu vào một số vết tích hiếm hoi, trong đó phế tích gạch ngói, nền móng chiếm phần đa số. Cái ngặt nghèo là hiện vật của mỗi thời chỉ tập trung vào một giai đoạn nhất định. Xưa nay, người ta chỉ chăm chăm nhìn vào phần nổi, phần huy hoàng của lịch sử, còn những khoảng lõm khuyết, đứt gãy thì lại bỏ quên. Nhưng nói thật, chính những khoảng khuyết ấy mới là chìa khóa để ta nhìn nhận một cách chân xác về số phận của ngôi chùa và cái gốc của nền kiến trúc cổ nước nhà.
Thời gian và địa bàn phân bố của ngôi chùa Việt cổ
Sự thật về niên đại của mỹ thuật thời Lý
Nói tới nghệ thuật thời Lý, người ta thường nghĩ ngay đến một nền mỹ thuật trải dài suốt hơn hai thế kỷ trị vì của triều đại này, từ năm 1010 đến năm 1225. Nhưng dưới góc nhìn của người trực tiếp đục đẽo, xem xét hiện vật, chúng tôi thấy tất cả những gì tinh túy nhất gắn liền với kiến trúc thời Lý thực ra chỉ nằm gọn trong một khoảng thời gian khá ngắn. Dấu vết đầu tiên có niên đại rõ ràng là những hiện vật ở chùa Phật Tích, thường được xác định vào năm 1057, hoặc có người tính là năm 1062. Còn dấu vết “cuối cùng” của thời kỳ này lại nằm ở tấm bia đá chùa Linh Xứng tận Thanh Hóa, đục năm 1126. Ngoài ra, người ta mới phát hiện thêm một tấm bia mang niên đại năm 1206 ở chùa Sùng Phúc nữa.
Vậy là khoảng thời gian trước năm 1057 và sau năm 1126 chính là khoảng lõm khuyết của mỹ thuật thời Lý. Đến ngay như ngôi chùa Một Cột dựng năm 1049 lừng lẫy là thế mà cũng chẳng thể giữ nổi hình hài nguyên bản. Giai đoạn trước năm 1057 thực chất là bước “quá độ”, một thời kỳ tập dượt không thể thiếu để sức dân, nghề thợ đủ độ chín, từ đó mới cho ra đời những công trình to lớn, vững chãi vào nửa sau thế kỷ XI. Nói thì dễ, nhưng buổi đầu dời đô ra Thăng Long, dù nhà Lý đã ý thức được tầm vóc của một quốc gia độc lập để sánh ngang hàng với phương Bắc, song tư duy kiến trúc buổi đầu vẫn chưa thoát khỏi cái bóng nhỏ hẹp của các vương triều đi trước. Công trình dựng lên nhiều, nhất là cung điện, nhưng chất liệu chưa bền, sự huy hoàng cũng mới ở mức độ tương đối mà thôi.
Cái hay của kiến trúc thời Lý là nó phản ánh trọn vẹn cái hào khí cường tráng của một dân tộc vừa trải qua chiến thắng “phá Tống bình Chiêm”. Cả triều đình lẫn người dân lúc ấy đều chung một lòng muốn khẳng định chế độ Trung ương tập quyền và chủ quyền đất nước. Đó chính là cái gốc, là bệ đỡ tinh thần để những công trình vĩ đại ra đời. Thế nhưng, khi một xã hội đã phân chia giai cấp, khi cái yêu cầu chung của vương quốc không còn là chuyện sống còn nữa, thì mâu thuẫn nội bộ lại trỗi dậy. Sự hà khắc của giai cấp thống trị làm rạn nứt khối đoàn kết toàn dân, khiến nửa sau triều Lý không còn cái nhân tố tụ họp lòng dân nữa. Mất đi sự bảo trợ của triều đình, kiến trúc nước nhà rơi vào khủng hoảng, không còn những công trình quy mô được dựng lên.
Nhìn vào khoảng lặng hàng trăm năm ấy, người trong nghề chúng tôi tuyệt đối không chấp nhận cách gọi gộp chung “Mỹ thuật Lý – Trần”. Làm gì có cái gọi là mỹ thuật Lý – Trần chung chung! Mỗi thời kỳ đều có một hoàn cảnh xã hội riêng để nhào nặn nên nền nghệ thuật của mình, và thực tế là mỹ thuật của hai thời này khác biệt nhau hoàn toàn.
Hai dòng chảy nghệ thuật kiến trúc thời Trần
Bước sang thời Trần, kiến trúc mỹ thuật lại rẽ thành hai dòng rõ rệt. Một dòng chuyên phục vụ cho giới quý tộc vương triều, càng về sau càng chịu ảnh hưởng đậm nét của văn hóa Trung Hoa cùng với sự trỗi dậy của tầng lớp Nho sĩ. Dấu vết sớm nhất của dòng này chính là chùa Phổ Minh, dựng năm 1262, và cho đến nay chúng tôi chưa tìm thấy công trình thời Trần nào có niên đại trước năm này. Dòng thứ hai là dòng kiến trúc làng xã, mang đậm hơi thở dân dã, tìm đường trở về với cội nguồn bản địa. Dòng này lại tập trung chủ yếu vào nửa cuối thế kỷ XIV, tồn tại ngắn ngủi trong khoảng gần 40 năm, từ cuối những năm 1350 đến hết đời vua Xương Phù (năm 1386).
Tại sao lại có sự đứt quãng và phân dòng như vậy? Vào thời Lý và nửa đầu thời Trần, chúng ta hầu như chỉ thấy di tích cung đình, bóng dáng kiến trúc làng xã rất mờ nhạt. Điều này gợi ý rằng kiến trúc tôn giáo của dân gian thời kỳ đó còn rất đơn sơ, chủ yếu làm bằng tranh tre nứa lá, chưa biết đến gỗ tốt hay gạch ngói bền vững. Một phần vì kinh tế, phần khác có lẽ người dân chưa dám vượt qua những định chế ngặt nghèo của triều đình trong một trật tự xã hội ổn định bằng tinh thần tôn sùng Phật giáo. Chỉ đến khi nội bộ nhà vương khủng hoảng, hệ ý thức giữa một bên là Nho, một bên là Phật rạn nứt, các quy định khắt khe bị nới lỏng, thì đó mới là thời cơ để các ngôi chùa làng bằng chất liệu bền vững ra đời, phù hợp với nền kinh tế công xã nông thôn thuần túy.
Sự kìm kẹp thời Lê Sơ và bước bùng nổ kiến trúc thời Mạc
Thế nhưng, cái sự cởi mở ngắn ngủi cuối thời Trần ấy đã bị chặn đứng hoàn toàn khi nhà Lê Sơ lên nắm quyền vào thế kỷ XV. Triều đình khẳng định độc tôn Nho giáo, thiết lập một trật tự xã hội dựa trên hệ ý thức mới với những luật lệ vô cùng khắc nghiệt. Hệ quả là không một di tích làng xã nào của thời kỳ này còn tồn tại rõ ràng để ta xác định cấu trúc. Ngoài đôi ba tấm bia ký rải rác và một số nhang án đá được xếp loại dựa vào phong cách nghệ thuật, tất cả di tích Lê Sơ để lại đều là công trình cung đình, lăng mộ gắn liền với nhà vua.
Phải đợi đến thế kỷ XVI, khi nhà Mạc thay thế, sau một giai đoạn dài bị dồn nén, nền kiến trúc mỹ thuật mới thực sự bùng nổ. Cái hay của kiến trúc thời Mạc là nó mang đậm màu sắc dân dã, phản ánh một xã hội có nền thương nghiệp phát triển, kinh tế sung túc. Qua các mảng chạm khắc, ta bắt gặp những yếu tố giao thoa văn hóa đa dạng từ Mã Lai đa đảo, Môn, Hán cho đến Tạng Miến, xen lẫn các hình tượng cầu phúc của cư dân nông nghiệp lúa nước. Những gì tiềm tàng, lắng đọng bao đời nay được khơi dậy, khiến nền nghệ thuật dân dã bừng tỉnh sinh động như tiếng nói của chính người đương thời. Đây là một nền kiến trúc mỹ thuật giàu có mà cho đến nay chúng ta vẫn chưa thể đo đếm hết được hiệu quả của nó.
Tuy nhiên, nói đi cũng phải nói lại, ngôi chùa thời Mạc không trải đều suốt cả thế kỷ XVI. Những công trình thời Mạc Đăng Doanh khá hiếm hoi, giai đoạn kế tiếp cũng chẳng khấm khá hơn. Đó dường như là cái quy luật tất yếu của lịch sử. Vào khoảng giữa thế kỷ XVI, họ Mạc theo lệ thường cũng quay về xây dựng ở quê hương Kiến An (Hải Phòng) để làm chỗ dựa cho ngai vàng tại Thăng Long. Người làm nghề chúng tôi đã tìm thấy nhiều di tích gắn với vua và công chúa Mạc ở vùng này, nhưng phải nhìn nhận thực tế là quy mô của chúng không còn to lớn, đồ sộ như các vương triều trước.
Mãi đến nửa sau thế kỷ XVI, nhất là dưới các đời niên hiệu Diên Thành, Sùng Khang, việc dựng chùa mới thực sự nở rộ. Chính sách cởi mở của nhà Mạc đã nâng đỡ tầng lớp thương nhân, thúc đẩy kinh tế làng xã, kích thích các ngành sản xuất phát triển. Từ đó, hàng loạt ngôi chùa cùng những đồ gốm tâm linh quy mô lớn mang tính chất thương mại mới có cơ hội ra đời. Dù đến cuối thời Mạc, cuộc nội chiến tàn khốc đã làm gián đoạn mạch phát triển, khiến di tích vắng bóng trong khoảng hơn mười năm, nhưng những cơ sở kinh tế thời Mạc tạo ra không dễ gì bị xóa sạch. Ảnh hưởng của nó cứ thế lúc thăng lúc trầm suốt thế kỷ XVII, khoét sâu vào sự suy yếu của ý thức chính thống triều đình, làm tiền đề để kiến trúc mỹ thuật dân dã đạt đến đỉnh cao vào cuối thế kỷ này, buộc ngôi chùa tạm thời lùi bước một nhịp.
Để rồi từ thế kỷ XVIII trở đi, những khoảng lõm đứt gãy về mặt thời gian đối với kiến trúc mỹ thuật gần như tiêu biến. Mật độ di tích có thể lúc dày lúc mỏng tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, nhưng loại hình công trình từ đó đã có sự phát triển liên tục, ăn khớp với dòng chảy thời gian.
—
Địa bàn phân bố của ngôi chùa Việt qua các không gian lịch sử
Khi đi dọc chiều dài đất nước, chúng ta sẽ nhận ra một điều: Không phải địa phương nào cũng có đầy đủ di tích của tất cả các thời kỳ. Bản đồ phân bố của những ngôi chùa cổ dường như gắn chặt với sự thịnh suy của từng giai đoạn lịch sử. Nếu để ý, bạn sẽ thấy rất khó hoặc hiếm khi tìm được một ngôi chùa nào có niên đại từ thế kỷ XVII trở về trước nằm ở vùng rừng núi xa xôi hay ở dải đất phía Nam. Tại sao lại có hiện tượng kỳ lạ này?
Chúng ta đều biết, một trong những sợi dây cốt lõi để liên kết, thống nhất một quốc gia về mọi mặt chính là kinh tế hàng hóa và thương nghiệp. Nước mình có nhiều đặc điểm nội tại riêng, nhưng nhìn chung không thể nằm ngoài quy luật ấy. Bản đồ phân bố của ngôi chùa qua các thời kỳ chính là tấm gương phản chiếu bước đi của xã hội.
Địa bàn nhỏ hẹp thời Lý và phòng tuyến chống Tống
Ngược dòng thời gian về thế kỷ XI và XII, địa bàn xuất hiện của các ngôi chùa thời Lý thực ra chỉ bó gọn trong một khu vực khá nhỏ hẹp. Nhà Lý giành vương quyền từ tay nhà Tiền Lê, dù rất muốn kiến tạo một quốc gia hùng cường nhưng hoàn cảnh đương thời chỉ cho phép triều đình thống nhất đất nước ở mức độ thấp. Đối với các vùng biên viễn, miền núi xa xôi, nhà lý buộc phải dùng chính sách “kị mi” — nghĩa là dùng ảnh hưởng chính trị và áp lực quân sự để ràng buộc các châu mục địa phương phụ thuộc vào mình.
Chính vì điều kiện lịch sử đó, di tích thời Lý chỉ xuất hiện quanh quẩn ở những vùng đất trực thuộc vương triều quản lý, nằm trong địa bàn cư trú của người Kinh. Chúng tôi chỉ tìm thấy dấu vết chùa Lý dọc theo ven bờ sông Đáy, sông Đống, quanh vùng Hà Nội, Bắc Ninh cũ và một phần ở vùng biển Kiến An (Hải Phòng). Địa vực này tính ra chỉ chiếm gần hết vùng đồng bằng Bắc Bộ mà thôi.
Còn những ngôi chùa được xây dựng dưới sự bảo trợ của Thái úy Lý Thường Kiệt ở vùng biên giới thì sao? Thực tế là dấu vết thời khởi dựng của chúng đến nay chưa được xác nhận rõ ràng. Mà theo nhận định của người trong nghề chúng tôi, tính chất xã hội của những ngôi chùa vùng biên này có phần khác biệt với chùa chiền ở đồng bằng Bắc Bộ. Sự xuất hiện của chúng ở vùng biên viễn mang tư cách như một cột mốc khẳng định chủ quyền lãnh thổ của vương triều. Nhìn từ bản đồ di tích sang trang sử cũ, ta thấy địa bàn thực quyền của nhà Lý tương đối nhỏ hẹp. Và cũng chính lý do này giúp chúng ta hiểu được vì sao nhà Lý lại chọn bờ Nam sông Cầu — vùng đất cốt lõi trực thuộc quyền quản lý của mình — để xây dựng phòng tuyến chống quân Tống xâm lược.
Sự mở rộng địa bàn thời Trần và tinh thần liên kết dân tộc
Đến thời Trần, vương quốc triều đình tập quyền đã vững mạnh hơn rất nhiều. Nhà nước bắt đầu hướng tầm mắt và sự quan tâm đến những vùng miền núi xa xôi, đặc biệt là dải biên giới giáp với Trung Hoa. Chính sách đối với các châu mục miền núi thời kỳ này đã chặt chẽ hơn trước, mà việc các thủ lĩnh miền núi phải gửi con cái về triều đình làm con tin là một minh chứng rõ nét. Xu hướng này tạo ra một sợi dây liên kết, tập trung mạnh mẽ trong khối cộng đồng dân tộc Đại Việt.
Nhờ bệ đỡ chính trị đó, địa bàn phân bố của ngôi chùa thời Trần đã được mở rộng hơn hẳn so với thời Lý. Qua bao năm khảo sát thực địa, chúng tôi nhận thấy mật độ di tích thời Trần không chỉ dày đặc hơn ở đồng bằng Bắc Bộ, mà đã bắt đầu xuất hiện ở vùng trung du (như Xuân Lũng – Vĩnh Phú) và thậm chí là ở vùng miền núi xa xôi (như Chiêm Hóa – Tuyên Quang). Sử sách còn ghi lại nhiều chùa chiền, dinh thự được dựng lên ở miền biên viễn, vốn là tác phẩm của những người Kinh theo chân con cái các châu mục lên miền núi. Rất tiếc là những công trình này đến nay không còn nữa. Nhưng sự ra đời của chúng, cộng với những di tích hiện tồn, đã minh chứng cho một xu thế tất yếu: Sự thống nhất về văn hóa và chính trị của cộng đồng người Việt. Chính nhờ cái gốc rễ bền sâu ấy mới có chuyện các vương tộc miền núi đồng lòng cùng triều đình đánh giặc, tạo điều kiện để bình định vương Lê Lợi sau này có thể hành quân bí mật, hạ thành chống Liễu Thăng ngay tại ải Chi Lăng.
Nhìn chung, di tích kiến trúc nghệ thuật thời Trần đã lan tỏa rộng hơn thời Lý, bắt đầu cắm rễ vào vùng trung du, miền núi và dải biên giới phía Bắc.
Bản đồ chùa thời Lê Sơ, thời Mạc và xu hướng dịch chuyển về phương Nam
Đến thời Lê Sơ, như đã nói, di tích để lại rất thưa thớt, hiện chỉ thấy tập trung ở kinh đô Thăng Long và vùng quê hương đất tổ Lam Sơn (Thanh Hóa). Một vài dấu vết bia ký nằm rải rác ở Hòa Bình hay vùng đồng bằng Bắc Bộ, Thanh Hóa chưa đủ để chúng ta phác thảo nên tính chất không gian của thời kỳ này. Phải chăng một xã hội bị kìm kẹp quá chặt về tư tưởng đã khiến sức sáng tạo kiến trúc dân gian bị thui chột, hoặc giả đây là lúc dân tộc đang loay hoay tìm kiếm một hướng đi mới?
Bước sang thế kỷ XVI, thời đại nhà Mạc chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của các con đường thương thuyền. Những dòng sông chảy ngược lên vùng trung du, miền núi hay đổ ra biển lớn đã trở thành huyết mạch giao thương bận rộn. Gắn liền với sự phát triển của thương nghiệp, di tích thời Mạc bùng nổ khắp các vùng đồng bằng Bắc Bộ, độ phủ dày đặc ở vùng Hải Hưng, Kiến An, vùng kinh đô, lan dần vào vùng ven biển tới tận Nghệ An, Hà Tĩnh và ngược lên các triền sông thuộc Vĩnh Phú, Hà Bắc…
Tuy vậy, ở vùng núi cao thẳm, di tích thời Mạc vẫn còn hiếm gặp. Nhưng rõ ràng, ở những vùng trung du và ven biển vốn dĩ dấu vết thời Lý, thời Trần còn quá thưa thớt, thì đến thời Mạc mật độ đã dày lên rõ rệt. Điều này chứng tỏ địa bàn sinh tụ và vai trò chủ thể của người Kinh đã xác lập một cách vững chắc trên một không gian rộng lớn hơn, nơi thương nghiệp và các hiện vật gốm sứ tâm linh đóng vai trò như những sợi dây kết nối vô hình.
Mạch sống ấy tiếp tục chảy mạnh sang thế kỷ XVII và XVIII. Di tích của người Kinh phát triển rầm rộ trên cái nền cũ của thời Mạc, đồng thời bắt đầu mở một hướng đi mới: Chạy dọc theo vùng duyên hải về phương Nam. Người làm nghề chúng tôi đã tìm thấy những dấu tích kiến trúc mỹ thuật của người Kinh tại đất Huế, có niên đại vào khoảng giữa thế kỷ XVII. Thế nhưng, cho đến hết thế kỷ XVIII, di tích của người Kinh ở miền núi vẫn là điều hiếm hoi. Phải chăng đây là một biểu hiện của tâm lý e ngại rừng thiêng nước độc, hay bởi vì xu hướng tiến ra biển và đi về phương Nam có sức hút mạnh mẽ hơn?
Mọi chuyện chỉ thực sự thay đổi diện mạo dưới vương triều nhà Nguyễn, đặc biệt là từ sau đời vua Tự Đức vào cuối thế kỷ XIX. Lúc này, di tích thuộc nền văn hóa của người Kinh mới thực sự lan tỏa khắp mọi miền đất nước, trải dài từ Nam chí Bắc. Chúng tôi đã tận mắt chứng kiến những ngôi đền linh thiêng ở tận Hồng Cúm (Điện Biên), ở Tây Trang nơi biên giới Việt – Lào; những ngôi đình, ngôi chùa vững chãi vùng Bắc Sơn, Cao Bằng, Lào Cai… Và thậm chí, các mảng hoa văn trang trí của người Kinh còn thấp thoáng xuất hiện trong các ngôi chùa Khơ-me ở Nam Bộ. Tuy nhiên, vết chân của nền kiến trúc mỹ thuật này vẫn chưa kịp in dấu trên vùng đất Tây Nguyên đất đỏ.
Nhìn lại toàn bộ sơ đồ phân bố của ngôi chùa Việt và các di tích cổ nói chung, chúng ta như được chứng kiến tận mắt những bước chân thăng trầm của cha ông trong quá khứ. Đó không đơn thuần là câu chuyện dựng cột, lợp ngói, mà là cả một hành trình gian truân mở mang bờ cõi, từng bước tiến tới sự thống nhất trọn vẹn của cả cộng đồng Việt Nam ngày hôm nay. Cửa chùa trong quá khứ đã làm tròn sứ mệnh giữ thế cân bằng cho xã hội và cho tâm hồn của mỗi người Việt chúng ta.
