Trong cấu trúc của các ngày hội làng truyền thống tiêu biểu, phần nghi lễ mở đầu luôn chiếm giữ một vị trí đặc biệt quan trọng, mà trong đó, hoạt động tế lễ đóng vai trò quyết định đến sự thành kính. Người xưa thường quan niệm nghi thức tế như một loại hình diễn xướng mang tính thiêng liêng. Đây là thời khắc quý giá giúp con người có cơ hội giao cảm với đấng thần linh, còn bài văn tế chính là sợi dây truyền nối mang tính cụ thể và hữu hiệu nhất. Nội dung bản văn “mục lục” (tức là bản thần phả, lịch sử của làng) tập trung ca ngợi mảnh đất quê hương, vinh danh công tích của các vị thần, đồng thời bày tỏ tấm lòng tri ân của cộng đồng dân cư, cầu mong thần linh tiếp tục che chở, phù hộ cho làng xóm.
Chính vì ý nghĩa thiêng liêng đó, việc tuyển chọn người đảm nhận trọng trách đọc văn tế thời xưa được tiến hành vô cùng nghiêm ngặt. Bên cạnh những tiêu chí khắt khe về trình độ học thức, phẩm hạnh đạo đức và hoàn cảnh gia đình ổn định, người được chọn bắt buộc phải sở hữu chất giọng tốt, vang ấm, cách phát âm mạch lạc. Đồng thời, họ cần thể hiện phong thái đĩnh đạc, trầm tĩnh và tuyệt đối không được phạm vào bất kỳ điều quy kỵ nào. Tất cả những đòi hỏi kỹ lưỡng này đều hướng tới mục đích cao nhất là biểu thị lòng thành kính sâu sắc của người trần thế đối với các bậc anh linh vào ngày địa phương mở đám rước thần.
Tại một số làng quê có truyền thống khoa bảng, nhiều người đỗ đạt hoặc tập trung đông đảo các nhà nho, dân làng thường lập ra lệ thi đọc bản văn “mục lục” nhằm tìm kiếm và tôn vinh người đọc xuất sắc nhất. Bản “mục lục” này đa phần được biên soạn bằng chữ Nho, nội dung tái hiện câu chuyện lập làng, ghi nhận công trạng của những bậc tiền nhân có công đánh giặc cứu nước, khai phá mở mang bờ cõi, hoặc truyền dạy nghề nghiệp giúp đời sống nhân dân ngày một hưng thịnh. Không chỉ vậy, bản văn còn nhắc nhớ về các truyền thống tốt đẹp, những mỹ tục cùng các thành tựu trên các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội. Qua đó, người dân có cơ hội ghi nhớ công ơn tổ tiên và thêm phần tự hào về nguồn cội, quê hương bản quán của mình.
Thi đọc “mục lục” ở làng Phú Khê (Huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh)
Vào khoảng thời gian diễn ra lễ hội từ ngày 11 đến ngày 17 tháng Giêng hằng năm, làng Phú Khê thuộc huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh lại rộn ràng tổ chức lệ thi đọc “mục lục”. Hội đồng chấm giải gồm có một vị chánh chủ khảo cùng 11 vị chức sắc trong làng, ngồi trang trọng trên hai hàng chiếu hoa trải sẵn ở ngay chính điện tòa đình, ngay phía trước hương án. Kế bên là một chiếc án nhỏ dùng để bày biện các phần thưởng dành cho người thắng cuộc bao gồm nhiễu, lụa, chè, bánh cùng các loại trái cây.
Cuộc thi thường diễn ra trong khoảng thời gian hai tiếng đồng hồ. Dù là một cuộc sát hạch kỹ năng đọc, không gian trong đình lúc này vẫn giữ trọn vẻ trang nghiêm với ánh đèn nến sáng trưng cùng làn hương trầm tỏa thơm ngát. Hệ thống trống chiêng được treo cẩn thận ở hai phía bên hương án. Cạnh đó, hai ông hiệu khoác trên mình bộ lễ phục chỉnh tề đứng túc trực, tay cầm sẵn dùi trống trong tư thế sẵn sàng. Những người giữ nhiệm vụ này đòi hỏi phải thông thuộc sâu sắc về thần tích cũng như lịch sử của làng để tiến hành thỉnh chiêng, gõ trống vào đúng các thời điểm quy định. Bản “mục lục” thi đấu được viết nắn nót trên nền vải lụa, đặt trang trọng trên chiếc giá văn chế tác bằng gỗ sơn son thếp vàng đặt trước hương án.
Khi ba hồi trống vang lên dồn dập, cuộc thi chính thức mở màn. Thí sinh tham gia dự thi trong trang phục áo dài, khăn đóng, quần trắng sẽ đi vào từ phía cửa bên phải của ngôi đình. Tại đây, có người đứng đón sẵn để dẫn thí sinh vào trình diện trước hội đồng giám khảo. Một tiếng trống gõ vang lên báo hiệu lệnh tiếp nhận thí sinh, liền sau đó là 3 tiếng trống điểm liên tiếp để gọi người vào thực hiện phần thi.
Người dự thi bước vào đứng đúng vị trí quy định, thực hiện nghi thức vái bốn vái trước ban thờ thần linh rồi dõng dạc nói to: “Thưa quan đám, tôi xin vào để khảo mục lục”. Ngay khi nghe một tiếng trống “tùng” phát ra làm hiệu cho phép, thí sinh bắt đầu bài thi dưới sự giám sát của hai người hộ vệ đứng hai bên có nhiệm vụ giữ gìn trật tự và trợ giúp khi cần. Người đọc đứng khoanh tay, ánh mắt nhìn thẳng vào chiếc giá văn, từ tốn đọc to rõ ràng từng chữ, từng câu một cách mạch lạc. Hễ thí sinh đọc hoàn thành một câu một cách chính xác, hệ thống trống chiêng lập tức điểm nhịp “tùng”, “bị” nối tiếp nhau để công nhận, làm cơ sở cho người đọc tiếp tục. Ngược lại, nếu chẳng may đọc sai chữ, trống sẽ điểm một hồi nhỏ và thí sinh bị mời ra ngoài.
Cái khó của hội thi này không chỉ dừng lại ở việc người thi phải thông suốt văn nghĩa, mà điểm đặc biệt là bản văn “mục lục” hằng năm luôn được ban tổ chức chủ động thay đổi, chỉnh sửa một số câu chữ. Tuy nhiên, các điểm thay đổi này đều được yết thị công khai từ trước để người dân chuẩn bị. Nếu thí sinh xuất sắc hoàn thành trọn vẹn toàn bộ văn bản mà không phạm lỗi, 3 hồi trống cùng 3 hồi chiêng sẽ đồng loạt vang lên để tán thưởng. Cuối cùng là nghi thức “xướng danh” công bố những người đoạt giải. Người thắng cuộc sẽ được ban giám khảo trân trọng mời một chén trà, phần quà thưởng sẽ được đoàn người mang đến trao tận nhà vào ngày hôm sau. Lúc này, bạn bè cùng những người cùng tham gia cuộc khảo thí sẽ có mặt đông đủ để chúc mừng người giật giải.
Thi “thầy đọc” ở hội chùa Keo (Huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình)
Tại lễ hội chùa Keo thuộc huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình hằng năm, người dân cũng duy trì một hình thức thi đọc bản văn tương tự với tên gọi là thi “thầy đọc”. Hội thi này diễn ra vào đêm ngày 13 tháng 9 âm lịch – vốn là đêm khai mạc đầu tiên của lễ hội, được tổ chức tại tòa giá roi bên trong khuôn viên chùa. Đây là sân chơi dành riêng cho các thầy cúng sở hữu giọng đọc tốt cùng tài năng văn chương giỏi.
Các thí sinh tham gia sẽ trình bày trước hội đồng ban giám khảo tác phẩm do chính mình tự sáng tác bằng chữ Nôm, xoay quanh chủ đề ca ngợi nghi thức “lục cúng” (bao gồm sáu lễ vật: hương, đăng, hoa, trà, quả, thực). Bên cạnh các đòi hỏi khắt khe về mặt nội dung, bài văn bắt buộc phải được diễn dịch làm sao cho thật vui tươi, mang không khí sinh động. Mục đích cốt lõi của hội thi nhằm tuyển chọn ra vị thầy cúng có năng lực xuất sắc nhất để phục vụ cho các nghi lễ của hội chùa trong năm đó. Đoạn văn thơ trích dẫn dưới đây miêu tả về phần “thực” (tức là thức ăn) bằng một giọng điệu khá dí dỏm:
“… Đồ lục cúng tranh nhau trên dưới,
Nào có ai lại chịu nhường ai.
Hương khoe hương, hương thấu đến trời,
Hương lại nói văn hoa mọi vẻ.
Đăng khoe đăng, đăng minh chiếu thế,
Trà khoe trà, trà đủ mọi mùi,
Quả khoe quả, quả có kỷ cương,
So tính lại không gì bằng thực.
Thực tôi đây có lòng nhân đức,
Dẫu việc gì có thực mới xong.
Có thực thì hoan hỷ vui lòng,
Thực không có, mặt chau mày ủ.
Đồ lục cúng bày ra cho đủ,
Khách thập phương đã rõ cả mười.
Thực tôi nay chẳng dám nhiều lời,
Xin hội chủ chấm “Thực” tôi được nhất”.
