Tháp cổ của người Việt và kỹ nghệ thông linh loài người chúng ta đã từng tồn tại và sinh bước qua nhiều vạn năm, cái khác biệt lớn nhất với các động vật khác chính là việc có tư duy. Trong dòng chảy miên viễn của suy tư ấy, con người thường tự đặt ra cho mình nhiều câu hỏi lớn về vũ trụ bao la và về chính nhân sinh thế sự. Trong một giới hạn, khi nghĩ về mối quan hệ giữa cõi vô biên và cõi vô thường, đôi khi người ta lại tự vấn:
– Con người từ đâu ra?
– Xuống đời làm chi?
– Tụ tan ở đâu khi trôi về miền vĩnh cửu?
– Bên ngoài thế giới hiện hữu có một thế giới thiên nhiên khác không?
– Thần linh là gì? Và mối quan hệ với con người như thế nào?
Bằng sự chiêm nghiệm tích lũy từ nhiều ngàn năm về trước, con người hình như đã tự cảm nhận thấy có một thế giới phản vật chất, vô hình nhưng lại chứa đựng một “siêu lực vũ trụ” vô biên. Dần dà về sau, thần linh được định hình rõ nét hơn và cũng xa dần kiếp sống nhân thế thường nhật. Nơi thanh cao và thoát tục của thứ “chân lý tuyệt đối” hay “bản thể chân như” ấy đã được đẩy vào cõi thanh hư. Người đời thường tin rằng những ngọn núi cao, những cây cổ thụ lớn chính là cái gạch nối của cõi mông lung vô hình với cõi đời, là nhịp cầu kết nối giữa trời và đất. Và rồi, khi con người tích lũy đủ khả năng và kỹ nghệ, họ đã sáng tạo nên những ngôi tháp.
Nhìn ra thế giới, ở châu Âu khi người ta đẩy Đức chúa Giê-su trở thành một siêu linh thì ngôi nhà thờ và tháp chuông cũng theo đó mà vươn theo chiều cao. Với đạo Phật, chính cuộc sống nhập thế đã khiến cho những ngôi tháp ban đầu mang tư cách là những điện thờ dưới dạng bát úp, giống như biểu hiện của sự hội tụ vũ trụ, là một bầu trời thu nhỏ dưới con mắt quan sát quen thuộc hàng ngày của người dân dã. Thế nhưng, khi đạo Phật truyền đến Trung Hoa, một xã hội phân hóa ở mức độ cao với những hệ triết học thuộc lĩnh vực “hình nhi thượng học”, thần linh cao viễn lúc này là đấng Hoàng quân giáo chủ cùng các thiên thần thiên tướng ngự trị tận trong các tầng trời.
Từ thực tế lịch sử đó, khi đạo Phật đến Trung Hoa đã kéo theo một hệ quả tất yếu là những ngôi tháp được chia thành nhiều tầng, phỏng theo sự phân hóa cấu trúc của xã hội và vươn mạnh theo chiều cao, bởi lẽ vị thần linh bấy giờ đã thoát ly hoàn toàn khỏi thế giới của con người thường tục. Trong một giới hạn cho phép của người làm nghề, chúng ta sẽ cùng bàn tới một vài vấn đề cốt lõi của tháp Phật giáo.
Sự dịch chuyển của cây tháp từ Ấn Độ sang Trung Hoa
Buổi khởi nguyên xa xưa trong những tiếng lao xao từ “thời mông muội”, việc tiếp cận với tầng trên cao của con người chỉ thông qua ngọn lửa và những cây cối, núi đồi tự nhiên, thuở ấy người ta chưa hề biết đến những cây tháp cao do tay người dựng. Vào khoảng thế kỷ III trước công nguyên, vị đại anh hùng của Ấn Độ là vua Asoka đã có công lao vô cùng lớn trong cuộc kết tập kinh, luật, luận của đức Thích Ca, tạo lực đẩy cho Phật giáo chuyển nhanh sang Đại chúng bộ, tức Đại thừa, phát triển hoằng dương đạo pháp rộng khắp.
Chuyện cũ kể rằng, trước sự phân hóa thành các tiểu vương quốc làm ảnh hưởng tới sự phát triển ổn định của xã hội, vua Asoka đã bằng tài năng quân sự xuất chúng của mình đi chinh phục rất nhiều tiểu quốc đó, đoàn quân của ông đã từng chém rụng hàng vạn đầu người. Cuộc chiến thắng oai hùng ấy đồng thời lại gắn liền với sự hối hận sâu sắc của Asoka. Ông quyết định đi tìm sự cứu rỗi cho tâm hồn mình bằng cách sám hối trước lẽ từ bi của đạo Phật. Ông mong muốn ánh sáng của Phật pháp sẽ lan tỏa khắp bầu trời của đất nước Ấn Độ, để tiếng chuông chiêu mộ cảnh tỉnh và tiếng thu không dẫn dắt con người chìm sâu vào dòng Cam lộ thanh tịnh.
Bằng quyền lực tối cao của mình, ông cho xây dựng rất nhiều tháp Phật. Theo những gì sách “Thủy kinh chú” còn ghi chép lại: vào thế kỷ thứ 3 trước công nguyên, một ngôi tháp của ông đã được dựng tại Nê lê thành (vùng Đồ Sơn – Hải Phòng ngày nay). Dòng Phật giáo chảy theo con đường hoằng dương của vua Asoka vào đất Việt có lẽ đã nương theo những chuyến thương thuyền và lan tỏa từ các nước Đông Nam Á, tức là đi theo đường biển từ phía Nam tới. Như vậy, người trong nghề chúng tôi có thể nghĩ rằng, nhiều khả năng ngôi tháp cổ này được xây dựng theo kiểu cách Hỏa Châu tháp, ít nhiều kế thừa bóng dáng hình khối của tháp Sanchi bên Ấn Độ – loại tháp nguyên thủy không chú ý tới việc phân chia tầng.
Tất cả những sự kiện kể trên đối với lịch sử Việt Nam hiện vẫn còn chìm trong những bóng mây mờ tỏ của quá khứ. Tuy nhiên, nhiều người cũng đã khẳng định rằng đó chỉ là một truyền thuyết được kết tụ lại bởi ý thức của một thời kỳ nhất định. Còn thực ra, bàn chân của vua Asoka có lẽ chưa hề đặt tới đất Việt, và hơn nữa, vào thế kỷ thứ tư hoặc thứ ba trước công nguyên thì khó có thể tin rằng đạo Phật đã lan tỏa tới tận vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Cái hay của thớ gỗ, mạch gạch là khi đạo Phật hay bất kỳ một tôn giáo nào lan tỏa đến đâu, chúng đều kéo theo những giáo đường, kiến trúc đặc trưng của nó. Như đã trình bày, những ngôi tháp Ấn Độ dạng bát úp thực chất chính là những ngôi đền thờ Phật. Theo con đường tơ lụa, hình dáng này lan dần về phương Đông, có thể là trước cả thời kỳ Bồ đề đạt ma (vị Tổ thứ 28 trong hệ thống tổ truyền đăng và là sơ tổ đông độ). Con đường tơ lụa ấy đi qua Long môn, Vân cương, để lại những ngôi chùa hang nổi tiếng cùng những ngôi tháp điển hình mà tới nay hầu như đều đã tàn phai theo dòng chảy nghiệt ngã của thời gian.
Và rồi, ở đất nước Trung Hoa mênh mông hiện nay chủ yếu chỉ còn lại những ngôi tháp nhiều tầng. Người ta nghĩ rằng đó là sáng tạo riêng của một dân tộc vĩ đại, song sự phát triển của một xã hội quân chủ chuyên chế tạo nên một thực tế xã hội có nhiều giai tầng thì phần nào ý thức giai cấp đó đã len lỏi vào kiếp tu để ảnh hưởng trực tiếp tới hình dáng ngôi tháp. Mặt khác, người Trung Hoa xưa đã chia đất nước làm nhiều tiểu quốc, đứng đầu mỗi tiểu quốc là một tước hầu, bao trùm lên các hầu là hoàng đế, đế chính là thiên tử, và ngự trên trời cao là thượng đế hoặc thiên đế. Trong bối cảnh phân tầng nghiêm ngặt đó, các thần linh dần được tách biệt khỏi xã hội của loài người, được đẩy lên các tầng trên cao, kiến trúc từ đó có xu hướng vươn mạnh theo chiều cao. Đó là một xu hướng rõ ràng để giải đáp về hình thức vươn cao của các cây tháp, với tư cách như một con đường dùng để thông linh giữa đất và trời.
Nói về ý nghĩa của từ ngữ, trong bộ từ điển “Từ Hải” của Trung Hoa có nói: Sách “Tứ vực” viết rằng Tháp là phù đồ, nơi dùng để chôn xương Phật, cũng gọi là Tháp bà. Phù đồ (cũng gọi phù tề) còn có tên gọi khác là Phù họa hoặc Phật đồ, đều là tiếng nhà Phật, nó do chữ “Hãn đô bau” (Stupa) hoặc “Xuất đô bà” (Dagoba) nói chệch âm ra mà thành. Theo nghĩa đạo Phật, nó chính là mồ mả, là linh miếu trang nghiêm. Về số tầng của tháp thì nhiều ít không nhất định: Phật tháp thì xây 13 tầng, Bích chi Phật tháp thì xây 11 tầng, còn A la hán tháp thì xây 4 tầng.
Một cuốn từ điển cổ khác là “Từ Nguyên” có viết: “Tháp Bà tức tháp, trong sách ‘Thích thị yếu lãm’ nghĩa là Phù đồ, tiếng Phạn là Tháp bà, có nghĩa là cao và rõ, hay gọi tắt là tháp”.
Trong cuốn “Phật học từ điển” của tác giả Đoàn Trung Còn cũng viết rõ: Tháp (stupa), Dagoba (p), Tháp-bà, Đâu-bà, Du-bà, Tụy-đô-ba, Tụy-đô-bà, Phù-đồ đều là những tiếng phiên âm theo tiếng Phạn. Người đời thường đọc gọn là Tháp, hoặc gọi là Bảo-tháp, Thất bảo tháp. Dịch nghĩa ra là miếu, linh miếu. Đấy là những tòa nhà cao, có nhiều tầng, cấu trúc dưới lớn trên nhỏ dùng để thờ Xá-lị (tro tàn) của chư Phật hoặc của các nhà thanh bần như Bồ tát, Duyên-giác, La-hán, hoặc dùng để chôn cất di-cốt của các vị thượng tọa, các bậc cao tăng trong ngôi chùa. Có cảnh tháp được cất riêng một mình biệt lập, song phần nhiều là được cất trong vòng rào của nhà chùa. Tháp lại cũng là những ngôi đền, được dựng ra để thờ tự di tích, tro tàn hài cốt của các nhà vua.
Theo kinh điển ghi lại, có 4 ngôi tháp thờ Phật mà các nhà tu hành nếu có duyên được viếng thăm và chiêm bái thì sẽ đặng phước đức rất to lớn, bao gồm:
- 1) Tháp kỷ niệm nơi Đức Phật giáng sinh.
- 2) Tháp kỷ niệm nơi Đức Phật thành đạo dưới cội Bồ-Đề.
- 3) Tháp kỷ niệm nơi Đức Phật chuyển Pháp-luân, bắt đầu thuyết pháp độ sinh (như khi Đức Phật Thích Ca chuyển pháp luân trong vườn lộc, độ cho năm ông Tỳ kheo).
- 4) Tháp kỷ niệm nơi Đức Phật nhập diệt (tức như đức Thích tôn nhập diệt nơi giữa hai cây sa-la tại kinh thành Câu-thí-na).
Khi ngài Huyền Trang đời Đường đi Tây Trúc thiên trước thỉnh kinh, ngài đã từng đến viếng và chiêm bái cả bốn ngôi tháp linh thiêng ấy. Trong Kinh Niết Bàn quyển 41, Đức Phật cũng đã chỉ cách xây dựng tháp rất rõ ràng: Tháp để thờ Xá-lị của Phật thì cất đúng 13 tầng; tháp thờ vị Bích chi Phật thì cất 11 tầng; tháp của vị A-la-hán thì xây 4 tầng; còn như tháp của vị Chuyển-luân-vương thì chẳng nên xây tầng nào cả, lý do là vì vị Chuyển-luân-vương tuy có uy quyền nhưng chưa thoát khỏi các mối khổ đau trong Tam giới.
Theo như các đoạn dẫn chứng ở trên, sự hóa thân của cây tháp từ dạng bát úp nguyên thủy như tháp Sanchi (Ấn Độ) thành loại kiến trúc tháp nhiều tầng là một hiện tượng phản ánh về một khía cạnh phát triển, thích ứng của đạo Phật khi truyền sang phương Đông dưới một môi cảnh xã hội hoàn toàn khác biệt.
Tuy nhiên, những cây tháp nhiều tầng của Trung Hoa qua cả một chuỗi tràng lịch sử xã hội đã hội tụ vào nó rất nhiều yếu tố triết học và “cuộc đời” khác nhau, để rồi từ đó nảy sinh ra nhiều dạng thức hình khối khác nhau, phù hợp với những dòng tư tưởng đa chiều. Người trong nghề chúng tôi có thể gặp được sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa Phật và Nho, giữa Phật và Lão được biểu hiện trực tiếp trên nhiều cây tháp thông qua các tông phái của nó. Tịnh độ tông đã cho chúng ta loại tháp Hòa phong (như ở chùa Dâu – Bắc Ninh) hay hệ tháp Cửu phẩm liên hoa (ở chùa Động Ngọ – Hải Hưng, chùa Bút Tháp – Hà Bắc) nhằm hội tụ vào đó ba tầng chứng quả của các kiếp tu lúc sinh thời (gọi là Tam phẩm vãng sinh).
Rồi lại có những cây tháp được dựng hình tám mặt, biểu hiện cho tám hướng trong ý thức Phật pháp viễn chiếu khắp tám phương trời đất, đồng thời trên các mảng trang trí ít nhiều có biểu hiện dòng chảy của thứ gọi là đạo giáo. Nhìn một cách tổng thể, các cây tháp Trung Hoa thường được xây dựng vô cùng chắc chắn, tạo cảm giác ấm áp với các tầng mái nhô ra bên ngoài không quá lớn. Cũng là những kiểu tháp này, khi chuyển sang vùng Triều Tiên và Nhật Bản thì thân tháp lại có phần thu nhỏ lại và các lớp mái được mở rộng biên độ ra, hình thức này đã tạo nên một vẻ đẹp duyên dáng, thanh thoát khác.
Trong khi đó, dòng Phật giáo Mật tông khi vượt lên dãy Hy-mã-lạp-sơn tràn vào vùng Tây Tạng đã để lại cho chúng ta một dạng tháp đặc trưng gọi là “Cối Kinh”. Đối với các nước theo dòng đạo Phật tiểu thừa, cách ngày nay trên dưới 1000 năm, dạng tháp bát úp đã được chuyển dịch dần sang các kiểu “Thạt” (như Thạt Luổng) hay Vát. Điển hình cho các dạng tháp của các nước này là mang hình dáng chiếc chuông (theo dáng dấp gần giống hình chiếc chuông của nhà thờ Gia tô giáo). Thực chất đó là một ngôi đền thờ Phật, bên trong đền chủ yếu chỉ tôn trí một pho tượng Đức Thích Ca.
Người ta còn giữ lại những dáng dấp gần giống với tháp cổ Sanchi ở chỗ đưa lên đỉnh tháp một biểu tượng với nhiều tầng dưới dạng hình lọng dội lên nhau, thiết kế một con đường bao quanh tháp nhằm mục đích để các tín đồ nhiễu Phật (chạy đàn), rồi trổ các cửa ở cả bốn mặt. Chính những chi tiết phụ này lại là nơi để người thợ tập trung để lại dấu vết nghệ thuật chạm khắc theo quan niệm thẩm mỹ của từng dân tộc. Những ngôi tháp kể trên của một số nước tiểu thừa thường không thiết kế phân chia tầng và được người Trung Hoa cũng như người Việt gọi chung là hỏa châu tháp.
Hệ thống tháp cổ qua các triều đại lịch sử Việt Nam
Dưới thời kỳ Bắc thuộc, có lẽ trên đất nước ta đã từng có một số tháp thờ được dựng lên (như tích Bát vạn sơn tháp của Cao Biền dùng để yểm mạch đất đã cho chúng ta nghĩ tới một dạng tháp tương tự). Song, nói thực tế là cho đến nay, ngay đến cả dấu vết của mặt bằng nền móng cũng không còn sót lại. Vì thế, nếu chỉ bằng vào vài cứ liệu mờ tỏ ghi chép trên sách sử cũ của Trung Hoa thì hoàn toàn không đủ cơ sở để chúng ta nhìn nhận một cách thấu đáo về những cây tháp Việt của thiên niên kỷ thứ nhất. Mặc dù chúng ta đều biết, vào giai đoạn lịch sử này, đạo Phật ở vùng Giao Châu đã khá thịnh hành và có những lúc đã mang tư cách như một lực lượng tinh thần to lớn để tập hợp dân chúng đứng lên chống lại cường quyền đô hộ.
Phải bắt đầu bước vào thời kỳ tự chủ, chúng ta mới thấy thấp thoáng để lại những dấu vết vật chất của những ngôi chùa cổ (như ngôi chùa ở ven dòng sông Hoàng Long của Đinh Liễn tại vùng đất Hoa Lư, rồi ngôi chùa Nhất Trụ với chiếc cột đá khắc kinh độc đáo vào thời Tiền Lê). Giới thợ chúng tôi tin rằng nơi thờ Phật của cha ông lúc này có lẽ phần nhiều chỉ là những thảo am mộc mạc bằng nhà cỏ mà thôi.
1. Đặc trưng hệ tháp thời Lý
Một ý kiến đột ngột khiến chúng ta phải suy nghĩ sâu sắc là từ khi nhà Lý lập quốc, một đất nước có quy củ, thể chế chính thức được hình thành và ý thức dân tộc được đề ra một cách vô cùng mạnh mẽ, thì chính triều đình đã có những đóng góp cực kỳ tích cực vào nền nghệ thuật tạo hình Phật giáo. Những cuộc chinh chiến về phương Nam cùng với sự giao lưu văn hóa với phương Bắc đã mở cửa cho các dòng văn hóa Phật giáo và Bà-la-môn giáo chảy một cách mạnh mẽ vào vùng đồng bằng Bắc Bộ, tạo cơ sở thực tế cho những dạng tháp thời Lý được hình thành vững chắc.
Dạng tháp thứ nhất có thể nghĩ tới là kiểu thức chịu ảnh hưởng từ Trung Hoa như ngọn tháp Long Đọi. Nơi đây, trong văn bia cổ còn ghi chép lại rất rõ ràng việc xây dựng tháp cao 13 tầng để thờ Đức Phật Như Lai Đa Bảo – hiện thân của một đặc tính Phật pháp chủ về việc thiện lành. Tháp có tầng dưới cùng được làm hoàn toàn bằng đá mài, tạo tác tâm tượng kim cương trấn giữ ở bốn cửa, các tầng phía trên được xây bằng gạch nung. Ngọn tháp đá quý này đã bị quân Minh đập phá từ đầu thế kỷ XV, nhưng rất may mắn là hiện nay vẫn còn sót lại sáu pho tượng kim cương đá, cùng với bia ký xác nhận sự tồn tại hiển hách của nó trong quá khứ.
Cũng thuộc dạng tháp tầng này, nhà Lý còn cho xây dựng ngay tại vị trí của một nhà thờ lớn ở Hà Nội ngày nay, lấy tên là “Đại thắng tư thiên Bảo tháp”, hay dân gian vẫn gọi tắt là tháp “Bảo Thiên”. Tháp này chỉ thiết kế có 12 tầng, với cái tên mang ý nghĩa báo công chiến thắng với Trời thì rõ ràng khởi thủy của nó không phải là một công trình thuần túy của Phật giáo, song dần dà theo thời gian, nó được hội vào không gian ngôi chùa để ít nhiều mang bóng dáng của chốn thiền môn.
Theo nhiều nhà dân tộc học và xã hội học, trong tâm hồn và tín ngưỡng của người Việt Nam chúng ta chưa từng có ý thức đẩy thần linh lên vị thế quá cao xa. Chư vị thần Phật vẫn luôn lẩn quất đâu đó ngay trong cuộc đời thường nhật, và đôi khi còn nhập vào những xác thân cụ thể để “ban ơn huệ” cho cõi đời. Do xuất phát từ tư duy gốc của nền nông nghiệp lúa nước, đền thờ của các ngài thường được người thợ bố trí dàn trải đều trên mặt bằng không gian. Mặt khác, nhìn một cách tổng thể thì sự phân hóa xã hội Việt không mạnh mẽ, yếu tố giai cấp khá mờ nhạt và trên bình diện chung, người ta ít khi thấy tính chất áp chế xuất hiện trong nghệ thuật tạo hình.
Cho nên, khó có thể tồn tại những ngôi tháp có kích thước cực lớn theo tỷ lệ như học giả Bezacier đã từng suy nghĩ. Ông cho rằng chiều cao của tháp thường bằng từ 3 đến 5 lần kích thước của chân đế. Nếu áp theo quy chuẩn ấy thì cây tháp Chương Sơn (ở Ý Yên – Nam Hà) phải có chiều cao từ 60 đến gần 100 mét. Người trong nghề chúng tôi thấy rằng, nếu đúng như vậy thì ngọn tháp được đặt trên quả đồi giữa đồng bằng bao la sẽ trở thành một chốt điểm sừng sững, mang ít nhiều nét áp chế không gian. Điều này là thứ khó có thể chấp nhận được trong tư duy hài hòa của người Việt.
Nói thì dễ nhưng khi đặt nhát đục đầu tiên mới hiểu lòng người xưa, một “giả thiết làm việc” được đặt ra là không có những ngôi tháp đá nhiều tầng cao vút như vậy, mà thực chất, do mặt nào đó chịu ảnh hưởng của dòng văn hóa phương Nam nên một số tháp Việt mang bóng dáng gần gũi với tháp Chàm. Có thể nghĩ tới đây chính là những am đá lớn dùng để thờ Phật chứ không tính toán đến số tầng cao. Một minh chứng cụ thể là đường chim bay tính từ Chương Sơn về một trung tâm văn hóa lớn của nhà Trần tại Mỹ Lộc (Nam Định) chỉ chưa đầy 20 km, thế mà không có bất kỳ một sách sử nào của nhà Trần nhắc đến ngọn tháp này. Điều đó khiến ta có thể tin tưởng rằng chiều cao của ngôi tháp Chương Sơn chắc chắn không phải khổng lồ như sự ước đoán của học giả người Pháp.
Những ngôi tháp gắn liền với đạo Phật ở thời Lý dù ở dạng này hay dạng khác, hiện nay mới chỉ có thể khẳng định được bản thân chúng thực chất chính là những điện thờ cốt lõi. Một khi công trình đã có tháp thì thường không còn một ngôi thượng điện nào khác nữa, bởi lẽ chính bản thân những ngôi tháp ấy đã đóng vai trò là những tòa thượng điện thâm nghiêm rồi. Ở vị trí gần như chính tâm trong lòng tháp, người ta sẽ tôn trí một pho tượng Phật. Như sách sử và hệ thống bia ký còn để lại, nhiều khi trong tháp cũng có đặt những bức phù điêu chạm khắc các vị Phật và Bồ tát khác.
2. Sự chuyển dịch cấu trúc sang thời Trần và các giai đoạn sau
Chuyển sang thời kỳ nhà Trần, đây là một thời kỳ mà đạo Phật được đề cao theo một chiều hướng mới, trong bối cảnh tầng lớp nho sĩ phát triển mạnh và đề cao văn hóa Trung Hoa, điều đó chắc chắn đã ảnh hưởng trực tiếp tới kiến trúc Phật giáo. Phái Thiền Trúc Lâm xuất hiện như một hiện tượng tự thân cưỡng lại những yếu tố phi dân tộc mà ở mặt văn hóa, bọn Nho sĩ thời bấy giờ đang hướng tới. Dưới sự chỉ đạo của phái Trúc Lâm, chắc chắn những ngôi tháp từ thời Lý vẫn tiếp tục được sử dụng, song lúc này tháp nhiều tầng đã được chọn xây dựng là chủ yếu.
Chúng tôi đã tìm được một minh chứng hiện vật khá nguyên vẹn làm bằng đá và gạch, đó là ngôi tháp tại chùa Phổ Minh ở ngoại thành Nam Định. Ngôi tháp này hiện tại cấu trúc có tất cả 14 tầng, nhưng bằng vào tư duy tạo hình mỹ thuật, có thể thấy rất rõ ràng 11 tầng phía dưới chính là sản phẩm nguyên bản của thời Trần, còn 3 tầng phía trên là sản phẩm đắp điếm của thời gian gần đây. Cụ thể, người thợ mộc, thợ đá chúng tôi nhìn thấy nẹp bốn góc của tháp là các trụ đá cùng hệ thống các cửa tò vò với hoa văn đặc trưng thời Trần chỉ xuất hiện cho đến hết tầng thứ 11, còn 3 tầng trên cùng hoàn toàn là vôi vữa mới.
Ở cây tháp Phổ Minh này, người ta không thể đi vào bên trong lòng tháp để tiến hành hành lễ được nữa, lý do là vì phần đế tháp chỉ rộng vỏn vẹn có 5 mét, trước đây trong lòng tháp có lẽ chỉ đặt vừa duy nhất một pho tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông. Như vậy, với cấu trúc 11 tầng nguyên thủy, kiến trúc này đã mang tư cách là một ngọn tháp Phật bích chi (quy chuẩn 11 tầng) và vị đệ nhất tổ của phái Trúc Lâm được coi như đã đạt được quả vị Phật này. Nhưng có một đặc điểm khác biệt đối với kiến trúc thời Trần là ngay đằng sau ngọn tháp, đi qua một khoảng sân nhỏ, chúng ta đã gặp ngay hệ thống rồng bậc thềm của thế kỷ XIII – XIV. Điều đó là bằng chứng khẳng định kể từ thời kỳ này trở đi, tháp và tòa thượng điện đã trở thành hai thực thể kiến trúc tách biệt nhau, mang hai chức năng hoàn toàn khác nhau trong cấu trúc tổng thể của một ngôi chùa.
Chúng ta còn có thể tìm thấy những dấu vết vật chất của tháp thời Trần ở vùng núi Yên Tử (Quảng Ninh) với phần nền móng hình bát giác, rồi đến các tháp của thời kỳ tiếp theo như tháp Bình Sơn (Lập Thạch – Vĩnh Phú), tháp năm tầng như của các ngài Chuyết Công, Minh Hành ở chùa Bút Tháp (Thuận Thành – Hà Bắc), hay các ngài tháp đá ba tầng xuất hiện ở nhiều nơi như ở chùa Phật Tích. Những ngọn tháp này đều mang tư cách là mộ sư (tháp mộ của các vị cao tăng), mà số tầng của tháp chính là sự biểu hiện cho mức độ chứng quả Bồ tát của các kiếp đời đã qua của vị sư đó.
Về sau này, cũng tính từ thế kỷ XVII, nhiều cây tháp bằng chất liệu đất nung đã được dựng lên như tháp Cửu sinh ở Chùa Hương, rồi tiếp đó các cây tháp xây bằng chất liệu vôi vữa dần trở nên phổ biến đại chúng. Trong hệ thống tháp mộ ấy, cũng có những cây tháp được thợ xây chỉ có duy nhất một tầng, đó thực chất là am sư gắn liền với các kiếp đời của các vị tu hành đã qua đời khi tuổi đời còn ít và quả vị Phật tích lũy chưa cao. Nhìn chung, bước đường tiến hóa của tháp Phật ở đất nước Việt Nam về cơ bản là diễn tiến như vậy, bằng việc quan sát tinh tường về mặt tạo hình, người thợ có thể xác định được tương đối chính xác niên đại cùng ý nghĩa tâm linh của nó.
Kỹ nghệ Cối Kinh và Tháp quay Cửu phẩm liên hoa
Nói đến Tháp cổ kinh (hay cối kinh) là chúng ta đang nói đến một cây tháp chứa đựng trong bản thân nó những ý nghĩa sâu sắc liên quan mật thiết đến đạo lý của một tông phái nhất định, mà cụ thể ở đây chính là Mật tông. Nói đến cối kinh là nói đến mật tông. Cối kinh vốn là một sản phẩm đặc trưng của nền văn hóa Phật giáo vùng Tây Tạng. Vào thế kỷ thứ XIII, cuộc chiến tranh thế giới do người Mông Cổ thực hiện đã vô hình trung chuyển tải nhiều yếu tố văn hóa của Tây Tạng sang các vùng đất rộng lớn ở xung quanh như: Trung Quốc, Triều Tiên, Mông Cổ, Nhật Bản, Việt Nam và một số vùng miền khác.
Trong số đó, cấu trúc cối kinh là một biểu tượng nhận được sự quan tâm rất lớn, bởi vì ở một chừng mực nhất định, tính chất vận hành của cối kinh đã tỏ ra phù hợp một cách hoàn hảo với tín ngưỡng dân dã của người dân. Người ta tin rằng, một hành giả càng niệm được nhiều câu mang tính chất phù chú (mật ngôn) thì người đó càng tích lũy được nhiều quả phúc. Song, cái khó là không thể dùng sức lực giới hạn của con người để ngồi tụng niệm liên tục ngày đêm được, vì dù có tập trung rất nhiều thời gian đi chăng nữa thì số lượng câu niệm trong một đời người vẫn không đáng là bao nhiêu.
Bằng sự chiêm nghiệm tâm linh, người ta như nhận ra rằng: lời cầu niệm sẽ được nâng tầm lên rất nhiều lần khi giữa người niệm và chiếc cối kinh có một sự chuyển động tương đối với nhau. Xuất phát từ lối chạy đàn ngày trước dưới dạng thức con người tự chuyển động đi vòng quanh đối tượng được mình tôn sùng, thì giờ đây với cối kinh, con người chỉ cần ngồi yên một chỗ tụng niệm và dùng các biện pháp cơ học để tác động làm quay cây tháp mộc. Trong khi người tu tụng niệm như vậy, cứ ứng với mỗi một vòng quay của tháp cối kinh, số lần niệm được tính nhân lên tương đương với 3.542,400 câu chú. Hình thức làm quay tháp có thể được diễn ra dưới dạng tận dụng sức nước tự nhiên chảy để quay, hoặc dùng chính sức người để đẩy cho tháp xoay vòng quanh một trục cốt gỗ cố định.
Theo lịch sử dòng nghề được ghi chép lại thành văn bản, chiếc cối kinh sớm nhất của người Việt được nêu danh tính từ thời vị Tổ Huyền Quang nhà Trần. Nhưng ở thời kỳ này, giáo lý Tịnh độ tông cũng đã phát triển vô cùng mạnh mẽ (như Tuệ Trung thượng sĩ đã từng nói: “Di đà chính thực pháp thân ta”), nên chiếc cối kinh của Mật tông khi vào nước ta đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của Tịnh độ tông. Thợ mộc thiết kế một hệ thống bệ đỡ chắc chắn cho những cấu trúc tháp quay gọi là “Cửu phẩm liên hoa” nhằm biểu hiện về những quả vị tu chứng trong Phật giáo, cũng như gửi gắm những ý niệm cầu phúc thuộc lĩnh vực tụng niệm hằng ngày.
Với lối tu tụng niệm kết hợp cối kinh này, người dân tin tưởng rằng dù cả cuộc đời có lỡ làm nghiệp ác, miễn là không phạm vào tội ngũ nghịch đại ác, thì đến khi sắp lâm chung, nếu tâm hồn hướng về thế giới của Đức Phật A di đà và được người thân hộ niệm cho 10 câu “Nam mô A di đà Phật” thì hồn linh của kiếp đời ấy sẽ không bị đọa đày về miền của ngạ quỷ, mà sẽ được chào đón vào miền thường trụ của Đức A di đà, cho dù chỉ là ở mức độ thấp nhất trong hệ thống cửu phẩm vãng sanh.
Cái hay của thớ gỗ này là nó phản ánh đúng những gì được Đoàn Trung Còn viết trong cuốn “Phật học từ điển” tập Nhất (trang 362 và 363, do Nhà xuất bản Phật học tòng thơ Sài Gòn ấn hành năm 1968) về thứ bậc Cửu phẩm vãng sanh: “Những ai muốn sanh qua cõi Tịnh-độ của Phật Adiđà đều do công hạnh tịnh nghiệp khác nhau mà vãng sanh trong chín phẩm hoa sen cao thấp khác nhau. Chín phẩm hoa sen ấy phân ra làm ba bối: thượng, trung, hạ; mỗi bối lại chia có ba phẩm nhỏ: thượng, trung, hạ. Cửu phẩm vãng sanh có giải thích rõ ràng trong sách ‘Quán vô lượng thọ phật Kinh'”. Cụ thể các phẩm bậc được phân định như sau:
- Thượng phẩm thượng sanh: Chúng sanh cần phát lộ đủ ba thứ tâm thì đặng vãng sanh: 1) Chí thành tâm; 2) Thâm tâm; 3) Hồi hướng phát nguyện tâm. Lại có ba thứ chúng sanh này sẽ được vãng sanh: 1) Từ tâm bất sát, cụ túc các giới; 2) Đọc tụng các kinh điển Đại-thừa; 3) Tu hành sáu niệm (niệm: Phật, pháp, tăng, giới, thí, thiên) hồi hướng phát nguyện sanh về cõi cực lạc.
- Thượng phẩm trung sanh: Đối với Nghĩa thứ nhất (tức là Phật) lòng chẳng kinh động, tin sâu vào lý Nhân quả, tuyệt đối không nhạo báng giáo pháp Đại thừa. Dùng chính công đức ấy hồi hướng, nguyện cầu sanh qua cõi cực-lạc.
- Thượng phẩm hạ sanh: Cũng giữ lòng tin sâu vào lý Nhân quả, chẳng nhạo báng giáo pháp Đại thừa, chỉ phát tâm Bồ-đề-vô-thượng. Dùng công đức ấy hồi hướng, nguyện cầu sanh qua cõi cực-lạc.
- Trung phẩm thượng sanh: Người thọ trì Năm giới, tám giới, Cự-túc giới, chẳng tạo ra năm sự nghịch ác, không có sự lỗi lầm, đều lo tu tỉnh. Dùng căn lành ấy hồi hướng nguyện cầu sanh qua thế giới cực-lạc phương Tây.
- Trung phẩm trung sanh: Một ngày một đêm trì giữ tám giới, một ngày một đêm trì Thập giới sa-di, một ngày một đêm trì Cụ-túc giới, giữ gìn oai nghi không thiếu sót. Dùng công đức ấy hồi hướng nguyện cầu sanh qua cõi cực lạc.
- Trung phẩm hạ sanh: Người ăn ở hiếu thảo phụng dưỡng cha mẹ, làm nhiều chuyện nhân từ ở thế gian. Lúc mạng sống sắp chung, may mắn gặp bậc thiện-tri-thức nói cho nghe về những việc vui mừng nơi cõi Phật Adiđà, cũng như nói cho nghe về 48 điều đại nguyện của ngài Pháp-Tạng-Tỳ-Kheo. Nghe xong mà lòng sinh vui mừng thì liền được sanh qua cõi cực lạc.
- Hạ phẩm thượng sanh: Những ai sinh thời làm ra việc ác, tạo nên nhiều pháp dữ và chẳng biết hổ thẹn. Song đến lúc mạng sắp chung, gặp được bậc thiện-tri-thức thuyết cho nghe danh tự đầu đề của 12 bộ kinh Đại thừa. Nhờ duyên lành ấy mà trừ bỏ hết nghiệp dữ rất nặng tích tụ trong ngàn kiếp. Bậc thiện-tri-thức ấy lại tận tình dạy cho biết cách lễ Phật và dạy niệm Nam-mô-Adi-đà Phật. Nhờ thành tâm xưng tên Phật, người đó liền được vãng sanh.
- Hạ phẩm trung sanh: Những ai hủy phạm năm giới, tám giới, cụ túc giới, ăn cắp đồ đạc vật dụng của nhà chùa, thuyết Pháp với tâm chẳng thanh tịnh, lòng chẳng biết hổ thẹn, lại dùng các nghiệp dữ để tự tô điểm lấy mình, kẻ ấy theo luật đáng đọa Địa ngục. Lúc lâm chung, lửa Địa ngục đã áp sát chuẩn bị đốt thiêu. Song nhờ gặp được bậc thiện-tri-thức tán thuyết cho nghe về oai lực khôn lường của đức A-di-đà, thần lực của ánh hào quang đức Adiđà, cũng như tán thán cho biết về Giới, Định, Huệ, Giải thoát, giải thoát tri kiến. Người ấy nghe xong liền sinh lòng vui mừng, lập tức có ngọn gió mát thổi đưa mình đến thẳng cõi Phật A-di-đà.
- Hạ phẩm hạ sanh: Những ai làm các nghiệp chẳng lành: phạm đủ năm nghiệp dữ, mười điều ác, có đủ hết mọi sự chẳng lành. Theo nghiệp đáng đọa vào ác đạo, trải qua nhiều kiếp thọ khổ vô cùng. Nhưng đến tận lúc mạng chung, may mắn gặp bậc thiện-tri-thức đến an ủi, thuyết pháp cho nghe và dạy cách niệm Phật Di đà. Nhờ thành kính xưng danh hiệu Phật Di-Đà mà được tiêu trừ tội chướng, liền đặng vãng sanh về cõi cực lạc phương Tây.
Cái lối tư duy và kết cấu mộc của những cây tháp quay cửu phẩm liên hoa chính là sự cụ thể hóa sống động các phẩm bậc vãng sanh này bằng gỗ lạt, mộng mẹo. Nhìn vào những thớ gỗ chuyển động xoay vần quanh trục, người thợ chúng tôi như thấy cả một niềm tin cứu rỗi mộc mạc nhưng vô cùng mãnh liệt của cha ông ta gửi gắm vào đó qua biết bao nhiêu thế hệ.
