Thần tích thần Tản Viên, Cao Sơn và Quý Minh Đại Vương. Hệ thống thần linh được thờ phụng tại các ngôi đình như Mễ Trì Hạ, Mễ Trì Thượng, Khương Thượng, Kim Liên, Tằm Xá… vô cùng phong phú. Bản chép thần tích về các vị thần ở nhiều địa phương vốn có những điểm dị biệt. Dưới đây là nội dung thần tích Tản Viên do Đông Các đại học sĩ Nguyễn Bính biên soạn vào năm 1572 cho xã Phú Lạc, tỉnh Phú Thọ, căn cứ theo tài liệu dịch của Nguyễn Duy Hinh trong công trình “Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam”. Dựa trên văn bản cổ này, Tản Viên không đơn thuần là một vị thần duy nhất mà bao gồm ba vị thần linh tối cao: Tản Viên giữ ngôi vị chủ tể, Cao Sơn là tả bộ sơn thần, còn Quý Minh đảm nhiệm hữu bộ sơn thần. Đây được xem là bản ghi chép có nội dung phong phú và toàn vẹn hơn cả.
Sự Tích Ra Đời Của Đức Thánh Tản Viên
Vào triều đại Hùng Vương thứ 18, tại vùng động Lăng Sương thuộc huyện Thanh Xuyên, phủ Gia Hưng, đạo Hưng Hóa, xứ Sơn Tây sở hữu cảnh sắc thiên nhiên vô cùng cẩm tú. Nơi đây có núi non điệp trùng, dòng suối trong xanh hòa quyện như tranh vẽ, cây cối tốt tươi cùng muông thú nhảy múa an lành, cung điện lung linh, xứng danh là danh thắng bậc nhất trời Nam.
Lúc bấy giờ, gia đình ông Nguyễn Cao Hạnh đã ở tuổi ngoài 70 và người vợ là bà Đinh Thị Điên đã hơn 50 tuổi đang sinh sống tại vùng đất này. Hai ông bà suốt đời ăn ở đức độ, làm nhiều việc nghĩa nên cuộc sống luôn phong lưu, dư dật. Vào một ngày nọ, ông bà bỗng nhìn thấy một đám mây lành tỏa ánh hào quang rực rỡ xuất hiện nơi khe động. Một con rồng vàng từ trên cao bay lượn lấy nước, rồi phun chu tinh (tức tính khí quý giá như ngọc) xuống dòng nước, bắn linh khí xuống đáy khe sâu khiến hương thơm ngào ngạt lan tỏa khắp không gian, sau đó rồng vàng lập tức bay thẳng lên trời. Ngay lúc gió mát hiu hiu thổi tới, cụ bà đi ra phía trái tường nhà để lấy nước tại giếng động trên một phiến đá trắng để tắm. Tự nhiên, đất trời chuyển biến rực rỡ, núi sông hiện khí lành, bà cảm nhận được linh khí quấn quýt rồi mang thai suốt 14 tháng.
Đến ngày mồng một (ngày sóc) tháng giêng năm Đinh Tỵ, khi bà đang ngồi nghỉ ngơi trên phiến đá trắng cũ, không gian bỗng xuất hiện đám mây năm sắc lung linh. Ngay trong thời khắc đó, bà sinh hạ được một cậu con trai có tướng mạo phi phàm, hình dung khôi ngô tuấn tú, khí phách hiên ngang vượt trội vạn người. Sau 100 ngày, cậu bé được đặt tên là Nguyễn Tuấn. Về sau, nhân dân còn lưu truyền bài thơ ca tụng cốt cách ngọc tinh thần của ngài tại vùng Lăng Sương.
Đến năm 6 tuổi, cậu được đổi tên thành Nguyễn Huệ. Sau khi người cha qua đời, người mẹ làm lễ an táng chu đáo. Vào năm 7 tuổi, hai mẹ con dắt nhau đến vùng núi linh thiêng Ngọc Tản thuộc Cửu Lĩnh (nằm tại xứ Mang Bồi) để định cư. Tại đây, họ kết giao với một vị lão bà cai quản vùng núi này tên là Ma Thị Cao Sơn Thần Nữ. Sống ở đó được 3 năm, vì lòng nhớ thương phần mộ tổ tiên nơi quê nhà, hai mẹ con lại trở về động cũ Lăng Sương, lúc này ông đổi tên thành Nguyễn Chiêu Dung (có thần tích khác chép là đổi tên thành Nguyễn Tùng).
Đến năm 12 tuổi, ông bộc lộ chí hướng học hành cao sâu, dù sống trong cảnh nhà tranh vách đất vẫn luôn vui vẻ, tiêu dao ngày tháng yên phận với mệnh trời. Vì thương người mẹ nuôi dưỡng vất vả, ba lần phải dời nhà mà cuộc sống vẫn gặp nhiều khó khăn, ông thường xuyên đến núi Ngọc Tản than thở với lão bà Ma Thị. Do hoàn cảnh nghèo khó tại động Lăng Sương không đủ điều kiện phụng dưỡng mẹ già, ông quyết định xin làm con nuôi của lão bà Ma Thị để làm nghề đốn củi bán lấy tiền nuôi mẹ. Lão bà cảm động liền chấp thuận.
Nguyễn Chiêu Dung đưa mẹ đến cùng sinh sống tại núi Tản Viên. Một năm sau thì người mẹ qua đời, ông tự tay lo liệu tang lễ chu toàn rồi tiếp tục ở lại phụng sự lão bà.
Linh Trượng Khổng Lồ Và Cuộc Gặp Gỡ Với Thủy Cung
Vào một ngày nọ khi lên ngọn núi ngọc chặt một cây cổ thụ lớn, ông trở về bảo người trong động cùng lên khuân gỗ. Tuy nhiên, khi đến nơi, mọi người ngỡ ngàng thấy cây bị chặt vẫn đứng thẳng, cành lá sum suê như cũ. Thấy làm lạ, ông quyết định chặt cây một lần nữa rồi giả vờ đi về, nấp vào một góc kín để theo dõi tình hình.
Đến đêm khuya, không gian xuất hiện một cụ già cao hơn một trượng, râu tóc bạc phơ, đầu đội mũ hoa, chân đi giày mây, tay phải xách gậy trúc với tướng mạo phi phàm. Theo sau cụ là một tiểu đồng liên tục rung chuông vàng ba lần. Cụ già đọc thần chú rồi lấy gậy đánh vào thân cây; ngay lập tức một trận cuồng phong lốc xoáy nổi lên bao phủ đỉnh núi, cây cổ thụ bỗng đứng dậy sống lại.
Nguyễn Chiêu Dung lập tức chạy đến ôm lấy cụ già gạn hỏi tôn hiệu, đồng thời trách cụ sao lại tiếc một cái cây mà làm triệt đường sinh sống của người dân nghèo khổ. Cụ già từ tốn đáp: Ta chính là Sơn Tinh Đại Thần, danh hiệu Tinh Thần Tử Huy Thiên Tướng, vâng sắc chỉ của Ngọc Hoàng để cai quản núi rừng. Cây này là bảo thụ ngô đồng, là nơi ngự của thánh thần và là chủ mộc của núi Ngọc Tản nên không thể đốn hạ. Mục đích của ta là bảo vệ cây quý để phù hộ cho giang sơn vĩnh viễn thái bình.
Nghe lời Thiên Tướng, Nguyễn Chiêu Dung cúi đầu tạ lỗi và xin ban cho chiếc linh trượng cùng thần chú thiêng để cứu giúp người đời, báo đáp ơn sâu của cha mẹ nhằm thoát cảnh lam lũ đốn củi. Nhận thấy ông là người đại hiếu và có khí chất phi thường, Thiên Tướng đã trao cây gậy thần cùng mật chú. Cụ căn dặn: Đầu gậy này có công năng cứu người chết sống lại, đầu gậy kia có phép trừ mọi tai họa, chỉ xuống đất thì đất nứt, chỉ xuống nước thì nước cạn. Tuy nhiên, tuyệt đối không được chỉ lên trời vì sẽ làm kinh động đến cửu trùng. Dặn dò xong, vị thần liền bay về trời.
Có được báu vật, Nguyễn Chiêu Dung vui mừng khôn xiết, trở về động cũ Lăng Sương và tự xưng là Thần Sư. Khi đi qua khu vực ấp Thủ Pháp, thôn Cốc, ông bất ngờ bị một đàn voi hổ hơn 500 con chặn lối. Thần vương liền lấy linh trượng chỉ một cái, lập tức hổ chạy về hướng bắc, voi chạy về hướng đông, mở ra con đường thông suốt. Đến bờ sông lớn gặp lúc trời nước mênh mông, thuyền bè không có, ông tiếp tục dùng gậy chỉ xuống nước, ngay lập tức một lối đi nhỏ hiện lên giúp ông đi qua sông như đi trên đất bằng.
Đến địa phận châu Trung Độ (châu Trường Sa) thuộc xã Ma Xá, ông bắt gặp nhóm trẻ chăn trâu đang tụ tập đánh đập một con rắn đen. Động lòng thương cảm, Thần sư bỏ ra 30 đồng tiền để mua lại con rắn từ bọn trẻ. Ông đem rắn đến xứ Thượng châu Trường Sa, đọc thần chú rồi dùng gậy thiêng chỉ vào, con rắn lập tức sống lại và cúi đầu bái tạ rồi rẽ nước đi mất. Lúc này ông mới biết đó chính là con trai của Long Vương.
Khi vị rắn đen trở về hồ Động Đình tâu lại sự việc, Long Vương vô cùng cảm kích công đức của Thần sư, lập tức sai thái tử cùng đô đốc giao long lên động đón ngài xuống thủy phủ. Bước qua cửa thành sơn son thếp vàng dưới lòng sông, Thần sư chứng kiến điện ngọc lớp lớp trùng điệp cùng hàng ngũ binh tướng cá rùa nghiêm trang đứng hai bên. Long Vương ngự trên chính tòa, đón tiếp Thần sư ngồi bên phải long sàng để bày tỏ lòng tri ân vì đã cứu mạng thái tử tại vùng Trường Sa. Thần sư từ tốn đáp rằng gia đình mình đời đời làm việc thiện, việc cứu thái tử hoàn toàn xuất phát từ lòng nhân ái chứ không hề mong cầu sự báo đáp.
Long Vương lập tức mở yến tiệc linh đình với đủ loại ngọc ngà châu báu và kỳ trân dị thú. Sau khi yến tiệc kết thúc, vua thủy phủ đem vàng ròng ra tạ ơn nhưng Thần sư kiên quyết từ chối. Thấy vậy, thái tử mật nghị riêng với Thần sư, khuyên ngài nên xin cuốn sách thần chứa nhiều phép thuật bí mật có thể triệt địa thông thiên, ước gì được nấy của Đế quân để thay cho tiền bạc. Thần sư chấp thuận, thái tử liền tâu xin và được Long Vương vui lòng trao tặng sách thần. Thần sư nhận sách, bái từ ra về và được quân sĩ thủy cung tiễn đưa chu đáo về đến động cũ.
Chúc Thư Của Ma Thị Cao Sơn Thần Nữ
Trở về nhà, Thần sư kết hợp thần chú, gậy thiêng cùng cuốn sách ước để hóa phép ra lâu đài cùng vạn vật đầy đủ. Ngài đến gặp mẹ nuôi Ma Thị trên núi Ngọc Tản để tỏ lòng hiếu kính sâu sắc. Để báo đáp công ơn to lớn như núi Thái Sơn của mẹ nuôi, ngài dùng sách thần mật niệm, khiến đất trời nổi sấm chớp và châu báu từ trên trời rơi xuống như mưa suốt nửa canh giờ, cùng với đó là trăm ngàn vị tiên giáng trần để phụng thị bà.
Thần sư xin được đưa mẹ nuôi về động Lăng Sương phụng dưỡng. Chứng kiến tấm lòng nhân đức, đôn hậu của con nuôi, lão bà Ma Thị vô cùng vui mừng. Vì đã ngoài 90 tuổi, bà quyết định lập một bản chúc thư truyền lại toàn bộ giang sơn điền địa, khê cừ, miếu mạo và rừng núi của mình cho Nguyễn Tuấn quản lý lâu dài, làm cơ sở hương hỏa tế tự cho muôn đời sau.
Chúc thư do Ma Thị Cao Sơn Thần Nữ lập tại Mang Bồi (tục gọi Khuê Sơn), thuộc sách Thủ Pháp, huyện Thanh Xuyên, phủ Gia Hưng, xứ Hưng Hóa nước Văn Lang vào ngày 28 tháng 8 năm Hùng Duệ Vương thứ 18. Văn bản quy định chi tiết diện tích giang sơn điền địa bao gồm:
- Một vùng linh sơn Ngọc Tản thuộc Cửu Lĩnh của sách Thủ Pháp gồm tổng cộng 22 khuê.
- Núi Ngọc Lĩnh có độ cao 1 ức 1 vạn 2 ngàn 3 trăm trượng, chu vi rộng 1 ức 9 vạn 8 nghìn 6 trăm trượng.
- Hệ thống 6 đoạn khê cừ có tổng chiều dài 1 vạn 2 ngàn 3 trăm trượng. Trong đó, đoạn từ thượng điện đỉnh núi đến hạ điện dài 1 vạn trượng; các đoạn khác kéo dài từ đỉnh Con Mèo, Cây Da, Đồi Mỏ Cò, Ba Dương ra đến mép sông lớn có chiều dài từ 200 đến 500 trượng.
- Vùng đất 1 ngàn lý tử thuộc xã Cẩm Đái xứ Hàm Rồng dài 8.500 trượng. Ranh giới phía đông giáp hai huyện Minh Nghĩa và Thạch Thất; phía nam giáp huyện Mỹ Lương và Phúc Lộc; phía tây giáp huyện Thanh Xuyên; phía bắc giáp huyện Bất Bạt.
- Khu vực này có thế đất tọa Cấn hướng Khôn, bao gồm các vị thần trấn giữ như Đại Giang Tả Kiên Thần Uyên Khang Đại Vương tại núi Ma Lãng, Hữu Kiên Thần Hiển Tục Đại Vương tại núi Nộn, tây nam Bạt Đồng Thần Trấn hiệu Uy Dũng Đại Vương, tây bắc Hậu Phi Cung Trinh Thuận Công Chúa.
- Hệ thống tư điền gồm 287 mẫu cùng ranh giới sông Đà kéo dài xuống sông Lô, lấy Ngã Ba sông làm mốc phân định.
Sau khi chúc thư được xác lập, Thần vương ở lại phụng dưỡng mẹ nuôi thêm một năm thì bà lâm bệnh nặng qua đời. Tuân theo lời di chúc, ngài lo liệu tang lễ theo đúng nghi thức cổ truyền, xây dựng thọ đường ở phía bên trái miếu từ để bốn mùa dâng hương thờ cúng nhằm vẹn toàn đạo hiếu. Ngôi miếu và thọ đường đó vẫn được lưu giữ trang nghiêm. Nơi an táng của bà nằm tại vùng Thanh Nguyên thuộc núi xã Chiêu Khô, huyện Phương Giao, nơi đây cũng được nhân dân lập miếu thờ phụng.
Cuộc Chiến Sơn Tinh Thủy Tinh Và Sự Tích Kén Rể
Lúc bấy giờ, Vua Hùng Duệ Vương đóng đô tại vùng Việt Trì sông Bạch Hạc, đặt tên nước là Văn Lang, thủ đô đặt tại Phong Châu. Vua là người tài trí minh triết, luôn chăm lo tu sửa đức độ và giữ vững biên cương giúp đất nước thái bình. Vua truyền lệnh cho thần dân toàn quốc chăm lo tu bổ đền miếu trang nghiêm, các quan phủ huyện mỗi tháng hai kỳ phải đến cúng tế để cầu quốc thái dân an.
Mặc dù sinh được nhiều hoàng tử nhưng các hoàng tử đều đi theo con đường tu tiên Bồng Lai chứ không chịu nối ngôi. Sau khi mơ thấy điềm lành, hoàng hậu sinh hạ được hai vị công chúa có đức hạnh trinh hiền và dung nhan xinh đẹp tuyệt trần. Công chúa trưởng tên là Mị Nương Tiên Dung, công chúa thứ hai là Mị Nương Ngọc Hoa. Sau khi công chúa Tiên Dung được gả cho Chử Đồng Tử (quê ở xã Đa Hòa, huyện Đông An), vua muốn kén rể hiền để truyền ngôi báu cho công chúa Ngọc Hoa. Vua cho lập lầu Tuyển Tế Đãi Hiền tại cửa thành Việt Trì, treo biển “Ngoạn Nguyệt Cầu Hiền”, ban chiếu tìm kiếm bậc anh hùng tài đức trong thiên hạ.
Ngày hội kén rể diễn ra vô cùng náo nhiệt, thuyền bè đậu kín bến sông, xe ngựa chen chúc trước lầu. Bậc anh hùng bốn phương kéo về thi tài đông đảo nhưng không ai đạt được toàn tài như ý nguyện của nhà vua.
Lúc này, Tản Viên Sơn Tinh và Động Đình Thủy Tinh vốn là bạn học cũ, đều sở hữu phép thuật thông thiên nhưng chưa kịp đến ứng tuyển. Sơn Tinh gửi thư mời Thủy Tinh cùng đến kinh đô thi tài để đoạt tú cầu. Thủy Tinh lập tức chỉnh đốn binh mã, kéo quân đến núi Ngọc Tản hội ngộ cùng Sơn Tinh. Cả hai cùng tiến kinh quỳ trước sân rồng xin được tham gia cuộc thi hiền.
Vua truyền lệnh ngự giá ra bến sông Bạch Hạc để xem hai vị tỉ thí pháp thuật. Thủy Tinh trở về đáy sông, lập tức làm mưa gió nổi lên, sóng thần cuồn cuộn, cá cua kình ngư xuất hiện dày đặc khiến trời đất mịt mù. Sơn Tinh đứng trên bờ, tay trái cầm sách thần, tay phải cầm linh trượng đọc mật chú rồi chỉ một cái. Ngay lập tức, năm hòn núi lớn (ngũ nhạc) cao vạn trượng bay đến chặn giữa dòng sông, thú rừng lao xuống tấn công khiến quân thủy tộc tan tành tiêu biến.
Chứng kiến tài năng của cả hai, vua xa giá về cung rồi triệu họ đến bảo rằng vì cả hai đều là bậc anh hùng nên ai đem sính lễ đến trước sẽ gả công chúa cho. Thủy Tinh tức tốc trở về hồ Động Đình để tìm báu vật (lúc này sách ước đã được Sơn Tinh mượn trước). Sơn Tinh dùng sách thần cầu xin lễ vật; ngay lập tức voi chín ngà cùng các sản vật quý hiếm từ trên trời rơi xuống. Ngài thu lấy lễ vật dâng vào lầu rồng trước tiên. Vua giữ đúng lời hứa, gả công chúa Ngọc Hoa cho Sơn Tinh và cho phép đưa nàng về núi Tản Viên.
Sáng hôm sau, Thủy Tinh mang sính lễ đến thì sự đã thành. Nổi giận lôi đình, Thủy Tinh xin vua cho đem binh mã thủy tộc gồm ba ba kình ngư rầm rộ kéo đến tấn công núi Tản Viên. Sơn Thánh lập tức đốc thúc tả hữu đến xã Tằm Xá thuộc huyện An Lãng, bủa lưới sắt ở bến Thủy Hương để ngăn chặn. Được sự trợ giúp của nhân dân xã Tằm Xá, quân Thủy Tinh không thể tiến lên.
Thủy tộc liền mở một dải Tiểu Hoành Giang kéo dài từ Lý Nhân đến chân núi Quảng Oai, đi theo cửa sông Hát ra sông lớn vào sông Đà để tập kích sau lưng núi, đồng thời mở thêm nhánh sông Pha đánh thẳng vào mặt trước. Sơn Thánh đối phó bằng cách cho đóng rào tre kiên cố nối giữa các ngọn núi và bảo dân làng dùng cung kiếm bắn giết thuỷ tộc khi chúng tiến đến. Quân thủy tộc tổn thất nặng nề, chết chất thành đống ven sông. Từ đó, Thủy Tinh ôm hận nên mỗi năm đều dâng nước đánh phá, gây bão lụt cho vùng chân núi, nhưng nhờ Sơn Thánh có sách ước và phép tiên nên thủy tộc không thể làm hại được.
Những Cung Điện Và Hành Cung Thời Hùng Vương
Sau khi bốn bể thanh bình, Vua Hùng thường tổ chức các chuyến du ngoạn khắp các danh thắng như Thần Phù, Yên Tử để thưởng ngoạn phong cảnh sông nước. Khi đi qua các huyện Ma Nghĩa, Vật Lại thấy địa thế sơn thủy hữu tình, vua cho thiết lập hành cung Trung Thần. Chúa công tiếp tục lập thêm hàng loạt hành cung tại các xã thuộc huyện Phúc Lộc như Liên Chiểu, Đông Sàng, Phù Sa, Duy Phiên, Tường Phiêu, Tam Sơn, Lễ Toàn, Nhân Lý, Vạn Khê, Xuân Hương, An Phúc, Tùng Cảo. Vua cũng cho xây dựng Nam Thần cung ở Khô Hải tại cửa Thập Nhị Khê và thường đến Mẫu Trạch ngắm cảnh núi sông.
Tại huyện Yên Sơn, vua lưu giá qua các xã Thạch Khôi, Sơn Lộ, Hữu Quang; tại huyện Thạch Thất qua Lai Thượng, Phúc Sài, Phú Ổ, Kinh Lộc, Phùng Xá, Di Ai, La Tịnh; tại huyện Mỹ Lương qua các xã Mỹ Lương, An Diệu, Tốt Động. Vua cho dựng cung điện Mang Sơn và để lại 72 mẫu tế điền tại xã An Diệu, 20 mẫu tại xã Đông Khai cùng 50 mẫu tại xã An Sơn làm hương hỏa cúng tế muôn đời.
Khi trở về ngọn núi Tản Viên ở động cũ, nhận thấy ba ngọn núi ngất trời có linh khí cao sâu, thôn xóm trù mật nên vua quyết định xây dựng cung điện nguy nga ngay trên đỉnh núi. Ngài lấy 22 khuê đất của sách Thủ Pháp để làm Thượng Thần cung tọa Cấn hướng Khôn làm chính điện; Trung Thần cung và Hạ Thần cung được dùng làm nơi tế tự; Đông Thần cung là nơi các quan tựu yết; hai cung nam bắc là nơi vua ngự.
Vua cho trích thuế điền của các tổng sách thuộc hai huyện Thanh Nguyên và An Lập để phục vụ việc tu sửa, tế tự Thượng Thần cung. Việc phụng sự định kỳ do sách Thủ Pháp đảm nhiệm, cùng với sự đồng phụng sự của 33 sách thuộc huyện Thanh Nguyên (như Mông Hóa, Phương Giao, Tang Ma, Long Cốc, Vạn Lung, Địch Quả, Xuân Đài…), 22 sách thuộc huyện Yên Lập (như Tùng Sơn, Mộ Lan, Vạn Bán, Thượng Lũng, Đông Lỗ, Cù Lạc…) và 5 châu gồm Thuận Châu, Chi Châu, Hoa Châu, Việt Châu.
Sơn Tinh Đại Phá Quân Thục Bảo Vệ Giang Sơn
Vào năm Ất Mùi khi Hùng Duệ Vương đã 115 tuổi, sức lực đã già nua mà các hoàng tử đều đã đắc đạo thành tiên nên triều đình không có người kế vị chính thống. Thục chủ thừa cơ muốn mang quân đánh chiếm nước Văn Lang từ phía tây. Vua bàn kế với quần thần, quan Liêu công khuyên vua nên dùng biện pháp đút lót và gửi thư cầu hòa để tạm hoãn việc binh đao nhằm tìm thời cơ.
Vua triệu Sơn Thánh đến bàn nghị. Sơn Thánh kiên quyết tâu rằng uy đức của nhà vua đang vang dội, quân Thục ngông cuồng xâm lược nhất định sẽ chuốc lấy thất bại. Ngài xin vua ban 3 vạn hùng binh để xuất biên giới đánh phạt quân Thục. Vua mừng rỡ, chọn ngày lành làm lễ tế cáo trời đất và trao linh quang thần nỏ cho Sơn Thánh. Vua thân hành trao việt và phủ cho Sơn Thánh tại miếu đường để ban quyền tiết chế thiên hạ dưới đầm sâu lên đến tận trời xanh.
Lúc bấy giờ quân Thục đã tiến sát đến châu Quỳnh Nhai (thuộc địa phận phủ An Tây). Sơn Thánh dẫn quân đến châu Phù Hoa tại động Quang Hoa để đóng quân bày trận, đồng thời truyền hịch gọi phiên binh các nơi cùng ứng chiến. Ngài phái đại tướng quân Huệ Trạch và hai vị Hiển Hựu Phó tướng quân đem 2 vạn quân tiến thẳng đến vị trí cách núi châu Quỳnh Nhai 50 lí để đánh trống khiêu chiến.
Tướng Thục đem 30 vạn đại quân ra đối phó; quân Hùng chủ động rút lui về phục kích tại hai bên Thiên Dao. Sơn Thánh đứng trên đỉnh núi châu Quỳnh Nhai dùng sách thần mật ước. Ngay lập tức, một vị đại thần tướng cao 7 trượng, tay cầm tiêu gỗ dài 36 xích rộng 5 xích hình con ốc từ trên trời giáng xuống đỉnh núi bên trái. Vị thần thổi một trận cuồng phong sấm sét dữ dội làm cây gãy nhà đổ, đất trời mù mịt khiến quân Thục đại loạn. Sơn Thánh ra lệnh nổi trống liên hồi, bắn nỏ thần và cho phục binh bốn mặt đồng loạt xông lên tiêu diệt toàn bộ 30 vạn quân Thục không sót một tên.
Sau chiến thắng, Thiên tướng bay về trời tại khu vực xã Thiên Mạc thuộc huyện Đan Phượng. Sơn Thánh truyền hịch báo tin thắng trận về kinh đô, vua xuống chiếu ban sư đón chào đoàn quân thắng trận.
Để tưởng thưởng công lao, vua phong Thiên tướng làm Uy vũ trợ đức hồi thiên kiêm thượng đẳng thần (được thờ tại xã Thiên Mạc); phong Sơn Thánh làm Quý Minh phổ trạch quảng vận nguyên nguyên soái; phong Tả kiên thần làm Linh ứng phổ hóa huệ trạch tá phụ quốc; phong Hữu kiên thần làm Hộ quốc phù vận hiển hựu tá phụ quốc; phong người dân Tằm Xá làm Cương nghị vũ dực thánh phó tướng quân (xã Tằm Xá thờ 4 vị thần này).
Hai năm sau, quân Thục tiếp tục cầu viện lân quốc, chỉnh đốn 100 vạn tinh binh cùng 8.000 ngựa khỏe chia làm 5 ngả tiến đánh để phục thù:
- Cánh quân chính gồm 30 vạn người và 5.000 ngựa tiến theo đường Thập Châu đến núi Quỳnh Nhai.
- Một cánh gồm 10 vạn quân và 2.500 ngựa đi theo đường châu Văn Lãng thuộc Lạng Sơn.
- Cánh quân bên hữu gồm 20 vạn người và 1.000 ngựa tiến theo đường châu Đại Nhai.
- Một cánh gồm 10 vạn quân và 500 ngựa đi theo đường châu Minh Linh thuộc Bố Chính.
- Cánh thủy binh gồm 3.000 chiến thuyền cùng 30 vạn quân thiện chiến xuất phát từ cửa biển Hội Thông thuộc châu Hoan.
Trước thế lực chấn động của địch, Hùng Duệ Vương lo lắng triệu tập đình thần nhưng không ai đưa ra được kế sách. Sơn Thánh tự tin tâu rằng quân Thục chỉ như sợi lông hồng, ngài xin ban 50 vạn hùng binh để dẹp loạn giữ yên thiên hạ. Vua chuẩn y.
Sơn Thánh đem 30 vạn quân cùng 1.000 voi ngựa theo đường chính Thập Châu đóng giữ thành cao hào sâu, ra lệnh cho Hậu Đức tả tướng quân và Hiển Uy hữu tướng quân treo giáp nghỉ ngơi nghiêm cấm khinh động. Ngài phân công các vị tướng lĩnh đi đối phó với các cánh quân địch:
- Phái Dũng Lược đại tướng quân, Cương Chính phó tướng quân, Tuy Lộc thiên tướng quân đem 3 vạn quân trấn giữ đường châu Văn Lãng để đối phó cánh trái quân Thục.
- Sai Chính Trực đại tướng quân, Thần Vũ phó tướng quân, Thuần Túy biên tướng quân đem 5 vạn quân trấn giữ các vùng núi hiểm yếu để đối phó cánh sau của địch.
- Sai Hồng Trạch đại tướng quân, Dương Vũ phó tướng quân, Uy Linh biên tướng quân đem 4 vạn quân ứng chiến theo đường Minh Linh bảo vệ cánh hữu.
- Sai Đương Đông đại tướng quân, Thông Hóa phó tướng quân, Diên Khánh tì tướng quân đem 4 vạn quân cùng hơn 2.000 chiếc thuyền ngăn chặn thủy quân địch tại cửa biển Hội Thông và thống lĩnh bộ binh châu Ái.
- Sai Quảng Trí đại tướng quân, Linh Quang phó tướng quân, Hựu Dẫn tì tướng quân đem 4 vạn quân sẵn sàng ứng chiến linh hoạt các nơi.
Sơn Thánh thân hành chỉ huy trận đánh lớn trên đường núi Thập Châu, thu hết cờ xí ấn tín của địch. Ngài dùng mưu viết một bức thư giả danh Thục chủ gửi cho các tướng Thục với nội dung căn dặn quân Hùng có thần tướng trấn giữ, toàn quân phải cố thủ chờ chiếu thư mới được hành động. Bức thư được đóng dấu triện của quân Thục và giao cho một viên thống sứ ngụy trang mang đến trại địch. Nhận được thư, tướng Thục nghiêm chỉnh đóng cửa thành cố thủ mà không biết kinh thành của mình đang gặp nguy biến.
Sơn Thánh lập tức thúc quân đi gấp ngày đêm hơn 500 lí đánh thẳng vào thủ đô nước Thục. Ngài dùng gậy thần và sách ước phá tan binh mã chính điện của địch, bắt sống vô số quân lính khiến ba cánh quân còn lại tự khắc tan vỡ. Sơn Thánh khải hoàn trở về kinh đô báo tin thắng trận, mang lại thái bình cho đất nước.
Quyết Định Nhường Ngôi Cho Thục An Dương Vương
Sau đại thắng, Vua Hùng muốn nhường ngôi báu cho Sơn Thánh. Ngài tha thiết từ chối và tâu rằng vận số 18 đời Vua Hùng đến đây là có hạn, việc Thục vương (vốn là bộ chủ Ai Lao, thuộc tông phái của hoàng đế đời trước) thừa cơ chiếm giữ là do quốc thể tiền định, không nên cưỡng lại ý trời mà gây tổn hại sinh linh. Vua khen ngợi ngài là người có lý, lại là danh thần rể quý có công lao vĩ đại nên ép ngài phải nhận vương vị để phụ quốc nhiếp chính công việc triều đình.
Tuy nhiên, lòng Sơn Thánh vốn khinh rẻ vàng bạc, chỉ muốn thoát tục thành tiên nên sau vài tháng nhiếp chính, ngài dâng trả lại ngôi báu cho vua để thuận theo vận trời, khuyên vua tìm người hiền khác truyền ngôi. Vua thu hồi quyền chính, phong Sơn Thánh làm Thiên Đạo Chiêu Dung, phong Quý Minh anh linh cùng ban tước ấp cho các vị tướng lĩnh có công bình Thục.
Sau đó, Sơn Thánh chu du khắp thiên hạ, lịch lãm sơn xuyên, hưởng thú vui đàn ca thi phú chốn Bồng Lai. Vào các ngày tế lễ hàng năm, ngài đều trở về triều đình không bao giờ vắng mặt. Ngài xây dựng nhiều hành cung và thảo xá tạm trú tại các tổng sách huyện Thanh Nguyên (như Thiết Quyển, Tang Ma, Phương Giao – nơi đặt lăng tổ tiên của ngài, Hùng Vĩ, Hùng Nhĩ để săn bắn), huyện An Lập (như Tùng Sơn, Mộ Lan, Khổng Tước…), huyện Hoa Khê (xã Trình Khúc, Phú Lạc), huyện Sơn Vĩ (Phú An, Chu Mật), huyện Đức Chương (Ô Vực, Tuy Lai…), huyện Mỹ Lương (Tốt Động) và huyện An Sơn (Liên Hạ) để xem phong thủy và săn bắn rồi trở về động cũ qua huyện Bất Bạt.
Được 10 năm, vào tháng giêng năm Mậu Thân, Thục chúa sai sứ giả dâng thư cùng nhiều vàng bạc châu báu để cầu hòa với Hùng Duệ Vương. Trong thư, Thục chúa bày tỏ sự hối hận vì lỗi lầm ngông cuồng trước đây, tự nhận mình là chi phái của nhà Hùng nên muốn được hòa thân phụng lễ triều cống để tri ân tổ tiên nơi chín suối.
Sơn Thánh thiết triều tại chính điện, mật tâu vua nên mở lượng hải hà chấp thuận lời cầu hòa để biết tiến biết thoái, đồng thời khuyên vua triệu Thục chúa về nhường ngôi báu vì vận nhà Hùng đã hết. Ngài khuyên vua cùng mình rút lui khỏi chốn lâu rồng gác phượng để bước vào cảnh giới thần tiên tiêu dao ngày tháng. Vua nghe theo kế sách, sai sứ mang binh mã triệu Thục chúa về nhường ngôi, ban cho chiếc nỏ thần cùng tì phù ấn tín.
Vua trở về núi Nghĩa Lĩnh cùng Sơn Thánh và công chúa Ngọc Hoa. Sau khi ngâm xong bài thơ ca tụng cảnh tiên bồng, gác lại nợ phong trần, cả ba vị cùng bay lên trời hóa sinh bất diệt giữa ban ngày.
Sau khi nhận ngôi báu, Thục An Dương Vương vô cùng cảm kích công đức của Vua Hùng liền xa giá đến núi Nghĩa Lĩnh xây dựng miếu điện trang nghiêm để quốc gia thờ phụng, đồng thời dựng hai trụ đá thề nguyện sẽ muôn đời chăm lo hương khói cho họ Hùng, nếu bội ước sẽ bị núi sông tròi đất trừng phạt. Vua phong cho xã Nghĩa Lĩnh và Nghĩa Cường làm hương trung nghĩa để bốn mùa thờ phụng Hùng Vương cùng Sơn Thánh. Vua trích 22 khuê của sách Thủ Pháp huyện Bất Bạt và xã Trung Độ làm dân táo lệ hộ nhi lâu dài, cùng với đất điền tế tại các sách huyện Thanh Xuyên và An Lập tổng cộng 2 vạn 7 ngàn mẫu để phục vụ hương hỏa cho ba tòa cung điện Thượng, Trung, Hạ.
Hệ Thống Sắc Phong Và Đạo Lý Uống Nước Nhớ Nguồn
Thục An Dương Vương chính thức sắc phong Sơn Thánh danh hiệu Cao Sơn Quý Minh Đại Vương, đồng thời lập miếu thờ và gia phong mỹ tự cho toàn bộ các vị công thần của ngài:
- Phong Hậu Đức làm Hộ quốc an dân Hậu Đức đại vương (thờ tại xã Hạ Hội, huyện Từ Liêm).
- Phong Hiển Uy làm Linh ứng phù hựu Hiển Uy đại vương (thờ tại thôn Độ Xá Hạ Địa).
- Phong Dũng Lược làm Hiển ứng hùng tài Dũng Lược đại vương.
- Phong Cương Chính làm Trung mục trung nghị Cương Chính đại vương.
- Phong Tuy Lục làm Minh chiêu diễn phúc Tuy Lục đại vương (thờ tại tổng Vân Canh, huyện An Lãng).
- Phong Chính Trực làm Anh Nghị thông duệ Chính Trực đại vương.
- Phong Thần Võ làm Thiên sách linh quang Thần Võ đại vương.
- Phong Thần Túy làm Chính đại cương trực Thuần Túy đại vương (hai xã Hương Canh, Ngọc Canh thờ).
- Phong Hồng Trạch làm Quảng tế xung vận Hồng Trạch đại vương (tổng Thọ Lão, huyện An Lạc thờ).
- Phong Dương Vũ làm Trinh chính hùng đoan Dương Vũ đại vương.
- Phong Uy Linh làm Thông minh duệ trí Uy Linh đại vương (xã Thọ Lão thờ).
- Phong Đương Đông làm Hộ Quốc Đương Đông thánh triết đại vương (xã An Lạc thờ).
- Phong Thông Hóa làm Hiển linh Thống Hóa phù hựu đại vương.
- Phong Diên Khánh làm Tích Phúc Diên Khánh hiển ứng đại vương (hai xã Bình Lỗ và An Trù thờ).
- Phong Quảng Trí làm Quảng Trí Thuận ứng linh thông đại vương (hai xã Vinh Lão, Sơn Lão thờ).
- Phong Linh Quang làm Linh Quang Hiến ứng phù cảm đại vương.
- Phong Hộ Quốc làm Hộ Quốc dực thánh hựu dân đại vương (hai xã Hương Nha, Trung Nha thờ).
Nghi thức sắc phong được thực hiện vào ngày mùng 9 tháng giêng năm Giáp Thìn khi Thục An Dương Vương lên ngôi đóng đô tại Cổ Loa. Vua trị vì thiên hạ thái bình suốt 50 năm. Do cậy có nỏ thần Linh Quang Thiên bảo nên vua chủ quan không lo việc luyện quân tuyển tướng phòng thủ biên cương.
Đến khi vua 80 tuổi, Triệu Đà người Chân Định dấy binh tấn công huyện Quế Lâm. Thục Vương lập đàn cầu cứu Sơn Thánh; ngài lập tức cưỡi mây bay xuống đánh thắng Triệu Đà nhiều trận. Tuy nhiên, vì thương xót sinh linh phải chịu cảnh lầm than do chiến tranh kéo dài, Sơn Thánh khuyên Thục Vương nên thuận theo ý trời (vận nước 50 năm đã hết), triệu Triệu Đà đến nhường ngôi để tránh họa binh đao cho nhân dân. Thục Vương nghe theo rồi đi xuống biển hóa sinh.
Lên ngôi vào ngày lành năm Bính Tý, Triệu Đà cảm phục đức độ của Sơn Thánh liền sắc phong ngài làm Chiêu Dung hiển ứng khuông quốc đại vương; phong Hữu kiên thần làm Hiển hựu bảo hộ linh thành đại vương; phong Tả kiên thần làm Xung tịnh uyên lương phổ hóa đại vương. Nhà Triệu cha truyền con nối được 5 đời tổng cộng 149 năm.
Khi nhà Triệu suy tàn, cháu gái Hùng Vương là Hai Bà Trưng (huý là Trắc) đứng lên khởi nghĩa, lập đàn tại cửa sông Hát mật cầu Sơn Thánh cùng bách thần phù hộ. Sau khi đánh bại Tô Định, thu phục 65 thành trì ở Lĩnh Ngoại và lên làm vua, Hai Bà Trưng ban sắc phong Sơn Thánh làm Văn võ thánh thần thông minh đại vương; phong Tả kiên thần làm Linh ứng khang dân trợ quốc đại vương; phong Hữu kiên thần làm Hiển hựu linh ứng khang tế đại vương, cùng gia phong mỹ tự cho các vị thần linh khác.
Trải qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần dựng xây cơ nghiệp, Sơn Thánh thường xuyên hiển linh dùng pháp thuật che chở, cứu giúp quốc gia qua các thời kỳ hoạn nạn. Các triều đại phong kiến đều trân trọng truy phong mỹ tự, chuẩn y việc trùng tu đền miếu cung điện, ban dân táo lệ phụng sự và miễn trừ hoàn toàn các loại thuế khóa, lao dịch để giữ gìn tiếng thơm vạn cổ, giúp vận nước luôn được cường thịnh lâu bền.
Văn bản sự tích chính thần của Cao Sơn Quý Minh Đại Vương ghi rõ ngài có húy là Tuấn, tự Quý Minh, là em trai của vị quốc chủ núi Tản Viên. Ban đầu hai anh em từ ngoài biển đi qua cửa Thần Phù trở về. Khi đi qua xã Nội Nghiệp, thôn Phú Mẫn nhận thấy có ngọn núi đẹp nên ghé thăm; sau đó chu du qua xã Phú Lạc thấy phong cảnh thanh kỳ liền dựng quán nghỉ chân. Do ngài nhiều lần hiển linh giúp đỡ nhân dân nên dân làng lập đền thờ phụng.
Vào thời Dương Đức (1672-1673), vùng Đoan Hùng giặc cướp nổi lên như rươi, yêu quỷ quấy nhiễu dân lành. Một hôm người dân thấy cụ già đứng trên đỉnh núi Ngọc Chúc điều khiển hàng ngàn người đi tiễu trừ giặc dữ, yêu quỷ từ đó tiêu tan, nhân dân mang ơn cứu sống liền lập đền thờ phụng đức thần. Tiếp đó vào thời Mục Đế (1505-1509) gặp lúc hạn hán nghiêm trọng, vua sai Thám hoa Nguyễn Hữu Nghiêm đến đền Phù Đổng cầu mưa. Trong đêm mộng thấy thần linh báo mộng tại đền Hàm Sơn ở Tường Độc có lọ nước thiêng, ông theo lời đến cầu liền được mưa lớn. Vua ban tặng một tấm đại dương cùng 5.000 gạch rồng để dâng cúng tế thần.
Chính bản thần tích này do Hàn lâm viện Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính phụng soạn vào ngày lành đầu mùa xuân năm Hồng Phúc nguyên niên (1572). Đến ngày lành giữa mùa thu năm Vĩnh Hựu thứ 6 (1740), Quản giám bách thần trị điện hùng lĩnh thiếu khanh tôn ý cửu bản phụng tả biên chép lại trang nghiêm.
