Tìm hiểu về thần và thành hoàng tại đình đền Hà Nội

Do đặc điểm Thăng Long từng là kinh đô của cả nước trước đây nên hệ thống thần và thành hoàng được tôn thờ ở các ngôi đình, ngôi đền rất phong phú. Diện mạo các vị thần tại đây gần như tiêu biểu cho hệ thống thần linh trong cả nước. Đó là những vị thần bản địa ở kinh kỳ từ thời nhà Lý như Long Đỗ (tức thần Bạch Mã) và Tô Lịch (vị thần đất và thần sông); các vị thần mang tính huyền thoại từ thời kỳ cổ đại như Tản Viên, Cao Sơn, Quý Minh. Bên cạnh đó, các vị tướng tá là con cháu của các Vua Hùng có lẽ đều được đưa vào thờ tự cùng với quá trình di dân từ vùng miền trung du xuống vùng châu thổ sông Hồng theo dòng thời gian. Từ một ngôi làng phát triển thành đô thị rồi trở thành kinh đô, hầu như thần linh ở tất cả các địa phương đều theo chân con người về cư ngụ tại đất Hà Nội, được phụng thờ ở các đình, đền, tiêu biểu như thần Đồng Cổ (vốn có nguồn gốc trước tiên ở Thanh Hóa).

Bởi vì lịch sử dân tộc Việt Nam vốn là lịch sử chống ngoại xâm và người dân Việt Nam luôn mang trong mình lòng yêu nước nồng nàn, cho nên trong số các vị thần, thành hoàng được thờ phụng ở Hà Nội, hầu hết là những nhân vật lịch sử từng giúp vua đánh giặc, giữ nước như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo… cùng các tướng tá dưới quyền của các ông.

Cũng từ quá trình một làng dần dần trở thành một thành và thị trấn nên các ngành nghề thủ công cùng việc giao thương buôn bán phát triển. Trên mảnh đất Thăng Long đã xuất hiện việc thờ tự nhiều vị thành hoàng là tổ sư nghề, ví dụ như nghề đúc đồng, nghề làm vàng bạc, nghề làm lọng, nghề hát thờ…

Một đặc trưng khác cũng cần lưu ý là kinh thành Thăng Long trước đây giữ vai trò trung tâm hành chính và buôn bán của cả nước nên đã có người nước ngoài đến sinh sống. Người Trung Hoa sang đây mang theo vị thánh là Quan Công được thờ trong các đình đền riêng của họ, về sau người dân kinh đô cũng thờ tự theo. Bên cạnh người Trung Hoa là người Chiêm Thành do vua Việt Nam bắt về hoặc đi theo vua quan Việt Nam về sinh sống ở kinh kỳ, vì vậy xung quanh Thăng Long tồn tại những ngôi đình đền của họ. Các thế hệ con cháu của họ (đã Việt hóa) tiến hành thờ cúng tổ tiên của mình, là những người có công lao khai phá vùng đất đó để làm thành hoàng làng, chẳng hạn như ở vùng Lĩnh Nam, Vĩnh Tuy (Thanh Trì).

Khi nhìn vào bản đồ hệ thống các đình đền được xếp hạng ở Hà Nội, chúng ta dễ dàng nhận thấy số lượng đình còn tồn tại trong các quận nội thành rất ít so với các huyện ngoại thành. Điều đó phản ánh rõ nét quá trình đô thị hóa của Thăng Long trước đây. Vai trò của ngôi đình trong cộng đồng làng xã nông nghiệp không còn thích hợp với môi trường đô thị, chức năng của ngôi đình gần như không còn tác dụng. Những ngôi đình cổ đã dần bị đổ nát, thu hẹp diện tích và bị phá hủy cùng với thời gian theo tiến trình phát triển đô thị. Những ngôi đình được giới thiệu phần lớn đều thuộc về các ngôi làng ven nội thành.

Ngày nay, đối với cư dân ở nội thành Hà Nội, do tính chất nghề nghiệp phi nông nghiệp, cùng với đặc điểm hợp cư từ dân cư khắp các nơi đổ về, không có mối quan hệ gắn kết với nhau như mô hình công xã nông thôn nên họ không cần đến thành hoàng. Thành hoàng là một thế lực tinh thần ít phổ quát, trở nên quá nhỏ bé đối với những người dân tứ xứ, vì vậy họ không mấy thiết tha với ngôi đình và vị thành hoàng. Những người làm nghề thủ công thì thờ phụng các thành hoàng là tổ sư nghề, song số lượng này cũng không phải là nhiều. Chỉ còn người dân ở các làng ven nội thành và các huyện mới thực sự quan tâm đến đình và thành hoàng, xem đó là sợi dây gắn bó, cố kết họ lại theo dòng máu và nơi sinh sống.

Thế lực của vị thành hoàng ở các làng cổ truyền hiện nay khá mạnh mẽ. Bởi lẽ ở khu vực nông thôn bây giờ, ngôi chùa hình như chỉ dành riêng cho phụ nữ, còn nam giới thì ít hoặc không lên chùa. Vai trò của nam giới trong đời sống gia đình và xã hội ở nông thôn mang tính khá quyết định, vì vậy việc tu sửa, tế lễ ở các đình đền đã được chú ý nhiều hơn so với các ngôi chùa ở nông thôn. Các kỳ hội mở ra trong các dịp tế lễ thần ở nông thôn hiện nay vẫn là một mảng quan trọng của đời sống sinh hoạt văn hóa làng xã. Do trước đây không được quan tâm đúng mức, lại bị coi là mê tín dị đoan nên lễ hội không được tổ chức; ngày nay nhiều nơi đã phục hồi lễ hội rất rầm rộ nhưng chưa được hướng dẫn để phát huy và loại bỏ những yếu tố lỗi thời sao cho phù hợp với thời đại mới, với một xã hội đang trên đà công nghiệp và hiện đại hóa.

Các đình, đền và chùa ngày nay không còn cơ sở ruộng đất như thời xưa, việc tu sửa và tổ chức lễ hội hoàn toàn do người dân đóng góp dưới nhiều hình thức khác nhau. Các làng ngoại thành ngày nay không còn khép kín như ngày xưa, không còn cảnh quanh năm im lìm trong lũy tre xanh; người dân tha thiết mong chờ lễ hội như một dịp để giải tỏa những khát khao mong đợi trong suốt cả năm. Làng quê ngày nay đã mở rộng giao lưu, các phương tiện truyền thông và văn hóa đã thâm nhập phổ biến, các ngành nghề được mở rộng. Nhịp điệu cuộc sống công nghiệp của thời đại mới đã làm đổi thay tâm lý cùng cả văn hóa tâm linh của người dân nông thôn. Vì vậy, trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thông qua việc tế lễ thần thành hoàng và mở lễ hội, cũng cần thực hiện sao cho phù hợp.

Có thể xem đình, đền là cái vỏ vật chất, là hình thức biểu hiện của nội dung tín ngưỡng thờ thần, thành hoàng của người Việt Nam. Bị chi phối bởi thế giới quan thần linh nên các sự tích đều nhuốm một màn sương huyền thoại hoang đường, phi hiện thực, phản ánh một giai đoạn phát triển lịch sử của dân tộc. Nếu tách rời các truyền thuyết huyền thoại đó khỏi kiến trúc vật chất (đình, đền) thì di tích chỉ còn là vôi gạch vô tri, vô giác. Nội dung truyền thuyết từ xa xưa đã phả vào từng viên gạch, từng ngọn cây cái Thiêng, cái Kính và làm nên ý nghĩa thiêng liêng của sông núi.

Vượt lên trên ý nghĩa của tín ngưỡng thờ thần, thành hoàng, khi loại bỏ yếu tố hoang đường, những di tích đình, đền giống như những chứng tích, những cuốn sử lộ thiên mà người không biết chữ cũng có thể đọc được, để tưởng tượng, để tái hiện những chiến công anh hùng của dân tộc, nhằm giáo dục thường xuyên những bài học về lòng đoàn kết yêu nước, chống ngoại xâm. Có thể coi những di tích lịch sử văn hóa, trong đó có đình, đền thờ thần là một phương thức giáo dục bền bỉ, hiệu nghiệm về những phẩm chất quý báu của dân tộc. Có thể chính biện pháp giáo dục này đã nuôi dưỡng truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, tạo nên những sức lực dẻo dai chống lại việc đồng hóa, cổ vũ quyết tâm đánh đuổi quân xâm lược.

Chính vì vậy nên hầu hết các đình, đền ở Hà Nội cũng như trong cả nước đều thờ các thần và thành hoàng là những nhân vật lịch sử đã phò vua giúp nước, đánh giặc bảo vệ dân, mang lòng yêu nước thương dân. Không phải ngẫu nhiên mà ngày nay chúng ta vẫn nói đến “Hồn thiêng sông núi”, đó chính là truyền thống yêu nước, tự hào dân tộc. Vì vậy, ngày nay chúng ta phải ra sức gìn giữ, bảo vệ các di tích lịch sử – văn hóa, đó cũng chính là cái gạch nối sáng chói của tinh thần yêu nước Việt Nam, của truyền thống Việt Nam giữa các thế hệ trước với các thế hệ sau.

Tín ngưỡng thờ thần và thành hoàng làng của người Việt thực chất là thờ phúc thần, giữ vai trò liên kết cộng đồng trong làng xã và mở rộng ra toàn quốc, nhằm giáo dục lòng yêu nước, nhân nghĩa, điều thiện trong những hình thức phù hợp với mỗi vùng miền. Đó chính thực là những giá trị văn hóa truyền thống vô cùng quý báu của dân tộc mà ngày nay chúng ta cần thừa kế và phát huy.