Phong cách tượng Phật thời Lý lật lại tư liệu thư tịch và bia ký xưa, người làm nghề chúng tôi mới thấy cái thuở nhà Lý, đạo Phật hưng thịnh biết bao, chùa tháp mọc lên khắp nơi, tượng Phật giáo thời này cũng đa dạng lắm. Có một điều khá ngộ là nhiều di tích cổ không gọi tên cụ thể pho tượng chính thờ trong điện là gì, họ chỉ ghi chung chung là tượng “Phật” hoặc đúc tượng “Như Lai”…
1. Tuyệt Tác Tượng Phật Chùa Phật Tích Và Chương Sơn
Nói về tượng đúc “Giáo Chủ Bản Sư” ở chùa Phật Tích, xưa nay giới đục chạm chúng tôi luôn coi đó là cái đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc Việt Nam. Đây cũng là pho tượng Phật sớm nhất của nước nhà còn giữ được dáng vẻ tương đối nguyên vẹn.
Nhìn vào khối đá mới thấy cái tài của người xưa, kích thước tượng khá lớn, độ cao nếu không tính bệ là 1,84m, riêng phần đầu tượng cao khoảng 45cm. Cái tỷ lệ này đúng chuẩn theo nguyên tác “Tọa tứ” (nghĩa là độ cao từ đỉnh sọ tới mặt ngồi bằng bốn lần chiều cao đầu). Chính nhờ cái tỷ lệ vàng này mà pho tượng hiện lên đầy cân xứng, ngự trong thế ngồi vô cùng vững chãi của một khối đá với đường viền khép kín, không một chi tiết thừa.
Có một điểm mà người trong nghề đều nhận ra, đại thể pho tượng này có nhiều nét chịu ảnh hưởng của nền nghệ thuật điêu khắc Gandhâra (tên đô thành của vua Kanishka, một vị vua sau thời Asoka, người có công lớn trong việc hoằng dương Phật pháp; thành này nay thuộc đất Peshawar-Pakistan, nơi chịu ảnh hưởng mạnh của nghệ thuật tạo hình Hy Lạp – La Mã rồi tự phát triển thành nền mỹ thuật riêng).
Các nếp áo của Phật được nghệ nhân thời Lý diễn tả dưới dạng những đường văn cong, được bào soi tròn và nổi khối mềm mại trên nền áo. Các nếp này chạy chéo xuống, uốn lượn nhịp nhàng theo lòng đùi, rất gần kiểu thức áo của tượng Phật kết ấn chuyển Pháp luân thuộc mỹ thuật Gandhâra hiện lưu giữ ở bảo tàng Calcutta bên Ấn Độ. Hình thức này cũng tương đồng với nhiều pho tượng cùng một dòng nghệ thuật khác, như tượng Phật kết ấn Tam Muội (pháp Giới Định, tiếng Phạn gọi là Samâdhi, nghĩa là cảnh Thiền bậc cao, khi ấy thân tâm kẻ tu hành không xao động, lìa xa tà loạn) hay tượng Phật kết ấn vô úy – một kiệt tác của Tối Thượng Thừa (tức giáo pháp Đại Thừa cao hơn hết).
Cái khéo của nhát đục thời Lý còn nằm ở các nếp áo phía lưng tượng Phật Tích: áo chạy chéo từ vai trái xuống hông rồi lượn cong lên, cuộn lại ở bên mạng sườn phải. Cách thể hiện này cũng là khuôn mẫu chung cho cả pho tượng ở chùa Chương Sơn, phần nào gần gũi với tượng chùa Hoàng Kim (Quốc Oai – Hà Sơn Bình) và cực kỳ hiếm gặp ở các thời kỳ sau.
Diện mạo thuần khiết và tỷ lệ Việt trên khối đá
Xem kỹ sọ tượng thời Lý thấy khá nở. Trên sọ và phần nhục kháo được phủ kín bởi những cụm tóc nhỏ lồi xoắn ốc. Người trong nghề nhìn vào đây là thấy ngay sự dung hội giữa tín ngưỡng dân dã cổ truyền và đạo Phật, cái vân xoắn này chính là một dạng nghệ thuật hóa của chóp, mang tư cách biểu tượng cho sức mạnh hạnh phúc nảy sinh từ tâm thức nông nghiệp. Dáng dấp này rất hợp với tinh thần trầm mặc, sâu lắng, trang nghiêm của Đức Phật và các kiếp tu.
Cac chi tiết trên mặt tượng được gọt giũa tỉ mỉ:
- Tai tượng: To và dài biểu hiện sự cao quý của bậc đại nhân.
- Đôi mắt: Khép hờ nhìn xuống, nhằm xem xét để trừ diệt nguồn gốc của mọi dục vọng, đó cũng chính là biểu hiện của việc soi rọi nội tâm.
- Lông mày: Cong vút hình vầng trăng lưỡi liềm (Nguyệt mi), vẻ đẹp thiên thần theo quan niệm Á Đông.
- Sống mũi: Thẳng tắp, một hình thức phổ biến của tượng Hy – Lạp và Ấn Độ, ảnh hưởng trực tiếp tới tượng Phật Tích.
- Miệng: Mím nhẹ, thoảng nụ cười như có như không, thể hiện sự cảm thông và cứu độ chúng sinh.
Tượng được đặt ngồi trong thế kiết già (Yoga), mình mặc áo cà sa bao gồm áo “thiên y” ở trong và một lớp “la bào” khoác nhẹ qua vai. Áo tượng ít lớp, phần nào còn đơn giản, chưa sử dụng nhiều nếp gấp rườm rà; hình thức bó sát người khiến cơ thể vẫn nổi khối, lộ rõ các đường nét ra ngoài. Ngực tượng rộng, bụng thon vừa phải, thân mỏng cao, hơi cúi nhẹ về phía trước… Đó là những nét đặc trưng cho phong cách tượng thời Lý.
Còn như pho tượng ở chùa Chương Sơn được làm vào đầu thế kỷ XII, về cơ bản có nhiều nét tương đồng với tượng Phật Tích từ bố cục, thế ngồi cho đến cách phục trang. Thế nhưng, điểm khác biệt là tượng mang hình thức nam giới rõ hơn, sống mũi hơi lõm, tai vừa phải, nhiều nét tả thực và đậm tính chất Việt hơn. Kể cả nhục kháo thì đầu tượng cao 28cm, tượng ngồi cao 93cm. Như vậy, pho này vẫn chung một phong cách với tượng Phật Tích ở tỷ lệ xấp xỉ “toàn thân bằng bốn đầu”.
Nhìn chung, tượng Phật thời Lý ít chi tiết vụn vặt, không rườm rà, các đường nét mềm mại nhưng dứt khoát, cách tạo tác mang tính quy phạm cao. Cái hay là các tượng Phật đều được đặt ngồi trên bệ riêng, tượng nào bệ nấy, tạo thành một tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh.
2. Uy Lực Thần Kính Của Tượng Kim Cương Trấn Cửa Tháp
Ngoài tượng Phật, một loại tượng dạng người khác còn gặp được dưới dạng nhân cách là Kim Cương, hiện nay mới chỉ tìm thấy ở Phật Tích và Long Đọi. Kim Cương thần (Vajrapâni), còn gọi là Kim Cương lực sĩ hay Chấp Kim Cương thần, chính là các vị bảo hộ Phật pháp, có tấm lòng kiên định và trong sáng, không bị sức mạnh hay dục vọng cuộc đời làm lay chuyển. Các cụ xưa tạc tượng này đứng trấn ở cửa tháp. Thông thường mỗi tòa tháp sẽ có “Bát bộ Kim Cương”, song đến nay ở chùa Phật Tích chỉ còn một pho không trọn vẹn (mất đầu, cụt cả hai tay), còn ở chùa Long Đọi hiện còn sáu pho ít nhiều cũng đã sứt mẻ theo thời gian.
Pho Kim Cương chùa Phật Tích (Năm 1066)
Pho tượng này được nghĩ là làm cùng thời với tháp vào năm 1066, chất liệu bằng đá mài (hiện phần đế đang tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam), kích thước to gần bằng người thực. Tượng được tạc gần như hoàn toàn là một tác phẩm điêu khắc riêng biệt, chỉ có một chút phần lưng liền khối đá với thành cửa tháp mà thôi.
Thân hình tượng nhìn chắc khỏe, bộ ngực nở căng, bụng vừa phải, bắp tay bắp chân tròn vững chãi. Tượng đứng trong thế hơi lệch hông sang bên phải, phối hợp nhịp nhàng với tà áo bay nhẹ sang trái, khiến khối đá vô tri trở nên sống động, đầy nội cảm. Hình thức này dễ gợi nhớ tới những pho tượng của Ấn Độ hay cư dân chịu ảnh hưởng văn minh Ấn. Song, tượng Việt vẫn đầy phong cách riêng ở chỗ các bộ phận cơ thể được làm mập mạp và người thợ chú ý nhiều tới các chi tiết “trang trí”.
Ở Phật Tích, người ta cũng đã tìm được đầu của một vị Kim Cương với chiếc mũ ốp sát đầu, quai mũ tạo thành đường chỉ kép nổi ôm lấy hàm và cằm. Trên thành mũ chạm khắc hàng hoa văn hình dấu hỏi hoặc hoa cúc rất phổ biến thời bấy giờ. Vì vị thần này mang chức năng vừa khuyến thiện vừa trừng ác, nên khuôn mặt vừa có nét nhân hậu lại vừa có nét cương quyết. Lông mày làm nổi khối, sơn căn hơi chau lại, hốc mắt sâu làm nổi bật đôi mắt lớn với con ngươi là một khối tròn lồi, môi mím mỏng. Tượng mặc áo dài, chân đi hài vô ưu (loại hài của võ tướng, bao từ nửa ống chân xuống với nhiều hình mây cuộn). Áo tượng ít nếp, vẻ đẹp tập trung vào tà áo bay và các dải hoa văn trang trí nơi gấu áo. Kim Cương chùa Phật Tích với đường nét dứt khoát, thân hình đầy sinh lực là một chỉnh thể gần với nghệ thuật phương Nam Á, có chút ảnh hưởng phương Bắc, nhưng những nét uyển chuyển gần gũi đời thường vẫn tôn lên một tinh thần Việt thuần khiết, ấm áp.
Hệ thống Kim Cương chùa Long Đọi (Năm 1108)
Tại chùa Long Đọi, hiện nay còn sáu pho cao bằng người thực (xấp xỉ 1,6m), là dạng phù điêu liền khối đá với cửa tháp xây kiểu vòm uốn. Những pho này được làm vào năm 1108 khi xây tháp. Nét chung của tượng Long Đọi là không còn vẻ uyển chuyển như Kim Cương Phật Tích nữa, mà dáng điệu nghiêm chỉnh theo một quy phạm nghiêm ngặt. Tuy nhiên, nhìn kỹ vẫn thấy rất rõ những yếu tố lịch sử và biểu tượng dân dã mang tính chất khu vực.
Tượng đội mũ “kim khôi” (loại mũ có đường diềm lớn trang trí ở trên và hai bên má chạy xuống ngang cổ), thành mũ chạm những bông cúc nổi mãn khai. Mũ ôm lấy một bộ mặt bẹt, trán không dô, xương má không nổi, mắt nhỏ, mũi miệng nhỏ… Các chi tiết này tạo nên một phong cách riêng biệt, rất dễ liên tưởng tới cách tạo mặt tượng của người Tây Nguyên thuở trước. Các vị đều mặc áo võ tướng, có nét chung với tượng Phật Tích. Chiếc áo này còn được gọi là áo giáp “Nhẫn Nhục” nhằm chống lại những “mũi tên” dục vọng của bọn giặc “tham, sân, si, ái, ố, hỉ, nộ”. Áo chưa nhiều nếp, vạt và cánh tay không thụng như tượng thời sau, nếp áo không phải là nếp gấp của vải mà là những đường gò hẳn lên.
Điều đáng quan tâm hơn cả là các biểu tượng trang trí trên áo, thể hiện ước vọng cầu phồn thực, tôn thờ lực lượng tự nhiên của người nông dân lúa nước:
- Hai vân xoắn lớn xoáy trôn ốc: Chiếm trọn bộ ngực tượng. Đây là hiện thực nghệ thuật hóa của sấm chớp, của nguồn phát sáng hay yếu tố khởi nguyên báo hiệu nguồn nước no đủ.
- Mặt hổ phù gồ ghề, hung dữ: Chạm nổi khối ở hai bên vai và chính giữa đai bụng. Đây là những mặt hổ phù sớm nhất hiện tìm được của người Việt, liên quan tới mặt trăng và mùa màng trong quan niệm Đông Nam Á, xuất hiện nhằm nâng cao uy lực của thần linh và cầu được mùa.
- Hoa cúc mãn khai: Từng bông nổi viền điểm xuyết cùng hổ phù và vân xoắn trên nền áo. Viền vai và gấu áo còn được bao bọc bởi hàng “kim tòng” (hàng gù rủ tua) đều đặn.
Nói tóm lại, ngay từ đầu thời tự chủ, tính chất biểu tượng và tính chất trang trí đơn thuần đã phối hợp với nhau một cách tự nhiên, không hề có sự phân cách. Kim Cương Phật Tích và Long Đọi chính là những pho tượng mở đầu cho một tỷ lệ Việt: người lùn so với đầu, và thân hình có xu hướng tiến tới chỗ mập mạp dần (tỷ lệ toàn thân của tượng Long Đọi chỉ hơn năm đầu chút ít).
3. Hình Tượng Bán Linh Nhân Kinnaras Đầy Đặn Tính Việt
Một hình tượng bán linh nhân thời Lý được người xưa quan tâm tạc tạo là Kinnaras, mang hình dáng nửa trên là người, nửa dưới là chim. Linh vật này tìm thấy ở Phật Tích và Long Đọi với chiều cao khoảng 40cm. Mọi chi tiết của cơ thể như được thu ngắn lại để tạo nên một khối mập, chắc, đăng đối giữa ba khối: đầu, thân và đuôi.
Con vật này chính là sự hội tụ giữa nét đẹp của người phụ nữ phương Nam với chim thần và nhiều biểu tượng vốn cổ của người Việt đương thời. Qua đó, yếu tố phi Hoa hiện lên rất rõ: cụm tóc chải cuộn ngược lên đỉnh đầu mang gốc gác từ người Mã Lai Đa Đảo (một trong nhiều cái gốc chung của cư dân Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam). Mặt tượng thuần hậu, mang dáng nữ với nét chân dung gần gũi với tâm lý người Việt. Tuy mang danh là quái vật nhưng diện mạo Kinnaras không hề có nét áp chế, hung tợn như nhiều mặt tượng của Trung Hoa; mặt khác nó cũng không được làm “thanh mảnh” như cơ thể thực của nhiều cư dân khác trong vùng, mà được nghệ nhân thời Lý cường điệu để tạo sự đầy đặn rất Việt.
Người thợ Việt cũng chạm nổi trên mình Kinnaras nhiều biểu tượng gắn với lực lượng tự nhiên như nguồn ánh sáng, nguồn nước, có thể kể tới hoa cúc mãn khai trên vành tóc, hay các vân xoắn trên cánh… Tất cả chỉ nhằm mục đích nâng cao uy lực cho con vật “vũ trụ” này.
Theo phật thoại, Kinnaras là hạng chúng sinh có tài tấu nhạc, nhất là nhạc đạo lý của Phật. Vì vậy, hình tượng của chúng luôn kèm theo nhạc cụ: ở chùa Phật Tích thì tượng đeo trống cơm trước ngực, còn ở chùa Long Đọi thì hai tay cầm chũm choẹ. Chúng được tạo tác đặt ở trên đầu của tháp không đơn thuần để trang trí, mà chủ yếu là để nhắc nhở về tâm pháp cho khách hành hương mỗi khi bước chân vào Phật đường.
4. Giá Trị Tạo Hình Nguyên Bản Thấm Đượm Hào Khí Độc Lập
Nhìn một cách tổng thể, các tượng hình nhân cách Phật giáo của thời Lý mặc dù mối chỉ tìm được rất ít, song pho tượng nào cũng xứng đáng là một tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao. Các tượng này đã phản ánh một trong không nhiều giai đoạn phát triển rực rỡ của nền tạo hình Việt Nam – một thời kỳ được nuôi dưỡng trọn vẹn bởi hào khí của buổi đầu độc lập dân tộc.
Tuy nhiên, người Việt mình không hề cực đoan. Đương thời, cha ông vẫn tiếp thu những tinh hoa của nền văn minh Trung Hoa, để rồi qua một số chi tiết chạm khắc trên tượng, chúng ta vẫn lọc ra được dấu vết của phương Bắc. Tất cả các yếu tố ngoại sinh và nội sinh đó đã dung hội lại với nhau một cách tài tình, để hầu hết tượng thời Lý trở thành những chỉnh thể vẹn toàn, sống mãi với thời gian.
