Nghệ thuật tạc tượng Phật giáo thời Tây Sơn

Nghệ thuật tạc tượng Phật giáo thời Tây Sơn người trong nghề đục tượng chúng tôi khi nhìn lại lịch sử đều thấy rõ, trước thời Tây Sơn, chưa từng có một Phật điện nào lại tụ hội được nhiều pho tượng quý cùng niên đại như ở chùa Tây Phương (Thạch Thất – Hà Tây) và chùa Phúc Khánh (Ngã Tư Sở – Hà Nội). Cái thời này, nhìn vào những ngôi chùa tiêu biểu như chùa Kim Liên (Nghi Tàm – Hà Nội) và chùa Tây Phương, người ta thấy ngay thực tế lịch sử về sự khủng hoảng của hệ tư tưởng chính thống.

Khi cả Nho giáo và Phật giáo đều không còn đủ sức làm chỗ dựa vững chắc cho chế độ quân chủ chuyên chế, mà lại chưa có hệ tư tưởng nào khác thay thế, thì hai nhà Phật – Nho đã kết hợp với nhau để chi phối xã hội. Chuyện này để lại dấu vết rất rõ trong lối tạo hình, nhất là mảng kiến trúc và hoa văn trang trí. Ở mảng tượng tròn, nhờ có sự hỗ trợ của tầng lớp trí thức quan lại mà số lượng tượng được tạo tác tăng lên nhiều hơn hẳn. Thời Tây Sơn đã bổ sung cho chùa Tây Phương một số bộ tượng mà trước đó không có hoặc rất hiếm gặp, nổi bật nhất là các bộ tượng Di Đà Tam Tôn, Tuyết Sơn, Di Lặc, Kim Cương và hệ thống các vị Tổ kế đăng.

Nghệ Thuật Tạc Tượng Trên Chính Điện Chùa Tây Phương

Nói về tòa chính điện, đây là nơi hội tụ của nhiều vấn đề thuộc cả Phật học, đời sống xã hội và kỹ nghệ tạo hình, mà trung tâm điểm chính là pho tượng Tuyết Sơn.

Tượng Tuyết Sơn Trong Khổ Hạnh Diệt Dục

Cái hay của pho tượng Tuyết Sơn này là người thợ xưa đã lột tả được vẻ khắc khổ của sự diệt dục. Đầu tượng không có tóc, trán rộng vừa phải hằn vài nếp nhăn, hai mắt lõm sâu nhìn xuống, phần thái dương hõm lại nổi lên vài đường gân rành mạch. Nhìn tổng thể, bộ mặt mang đậm nét chân dung, nhấn mạnh sự gầy guộc để nêu bật vẻ trăn trở, suy tư trong những năm tháng khổ hạnh.

So với pho Tuyết Sơn ở chùa Bút Tháp, pho tượng này nằm ở một thái cực khác: khuôn mặt nhân hậu, đôi mắt không có nét dữ tợn mà toát lên sự tập trung tư tưởng cao độ, có nét khắc khoải xót xa vì cuộc đời. Cái gầy guộc của cơ thể và dáng ngồi “nghỉ ngơi” rất đời thực – chân khoanh chân chống, tay tì lên gối tự nhiên cùng vạt áo đơn giản với các nếp hằn sâu – đã phối hợp với nhau vừa vặn để nhấn mạnh thần thái của Thích Ca khi người còn tu theo kiểu ép xác của dòng Bà La Môn ở núi Tuyết. Trong tư cách này, Người chưa thành Phật, chưa an trụ ở cõi Niết Bàn nên chưa ngồi trên tòa sen và đầu cũng chưa nổi nhục khấu.

Pho Tượng A Di Đà Đứng (Di Đà Phát Quang)

Trên Phật điện, chỉ có tượng A Di Đà là được đứng trên đài sen, bởi Người đã ở thế giới giác ngộ, giải thoát hoàn toàn khỏi dục vọng. Ở trường hợp này, do chúng sinh bị chìm đắm quá sâu vào tục lụy, xã hội lìa tan nên hình thức Di Đà được tạc trong thế đứng để biểu hiện sự cứu độ một cách gấp gáp. Đây là một trong số ít pho tượng Di Đà đứng ở nước ta. Trên bàn thờ chùa Tây Phương, tượng đặt ở vị trí cao nhất phía sau pho Tuyết Sơn dưới dạng bụt ốc.

Khuôn mặt tượng vẫn theo phong cách của giai đoạn giữa thế kỷ XVII, ít nhiều có nét chân dung. Tượng mặc áo thụng dài với nhiều nếp to chảy xuôi rất mạnh, điểm khác biệt với thời trước là gấu áo nhẹ bay loe ra theo hình lượn sóng. Trong thế đứng, tay trái tượng kết ấn cam lồ với các ngón để thẳng, ngón cái giữ viên ngọc Pháp co trước bụng, tay phải duỗi thẳng trong thế cứu độ chúng sinh. Pho này còn được gọi với tên là “Di Đà Phát Quang”.

Tượng Phật Di Lặc

Ngồi ngay dưới hàng Tuyết Sơn là đức Di Lặc, mang hình thức đối nghịch hoàn toàn với pho Tuyết Sơn. Ngài có một thân hình béo tốt quá cỡ, đầu và mặt tròn trọc không có tóc, miệng cười hỉ hả vô lo vô nghĩ. Tượng mặc áo cà sa ít nếp hơn các pho khác, dáng ngồi hơi ngửa ra sau một cách vững chãi biểu hiện của tịnh lạc viên mãn. Chiếc bụng lớn tròn được để hở, hai vú to xệ xuống. Người thợ xưa đã khéo léo dùng đôi ba đường nhăn lượn song hành để ngăn cách ba khối nổi này, phá đi cái đơn điệu một cách tài tình.

Cũng như mọi tượng Di Lặc của người Việt và vùng nam Trung Hoa, tượng ngồi chân khoanh chân chống, khuỷu tay tì trên túi “hậu thiên”. Pho tượng này mang hình thức ít nhiều hài hước nhưng là một pho khá đẹp, thế ngồi tự nhiên không bị gò bó bởi quy luật đăng đối. Vẻ đẹp ấy còn tăng lên ở ý nghĩa giải thoát viên mãn, không bị ràng buộc bởi lục căn lục trần. Người Việt coi Ngài như một vị chúa cứu thế với tâm niệm “Di Lặc xuất thế, thiên hạ thái bình”. Sự xuất hiện của cả “Di Đà Phát Quang” và Di Lặc trên cùng chính điện là kết quả tất yếu sinh ra qua một thời kỳ dài chiến tranh, đói khổ ở thế kỷ XVIII, khi các mẫu hình tư tưởng cũ đổ vỡ, xã hội trở nên bức bối.

Hệ Thống Tượng Các Vị Tổ Kế Đăng Tại Hậu Đường

Loại tượng thứ hai đáng quan tâm ở chùa Tây Phương là tượng các vị Tổ kế đăng và một số vị Bồ Tát. Kèm hai bên đức A Di Đà là Quan Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát; hai bên pho Tuyết Sơn là hai tôn giả Ca Diếp (mặt già) và A Nan (mặt trẻ); hai bên Di Lặc là Bồ Tát Pháp Hoa Lâm và Đại Diệu Tường. Ở tòa hậu đường còn có mười sáu pho tượng Tổ khác cùng chung một phong cách, tạo thành hệ thống 18 pho Tổ kế đăng.

Người trong nghề chúng tôi nhận thấy trọng tâm nghệ thuật tạo tượng ở đây được dồn vào 18 pho tượng Tổ này, mỗi pho là một diện mạo độc nhất:

  • Ma Ha Ca Diếp (Tổ thứ nhất): Diện mạo một người già với vài nếp nhăn trên trán, khuôn mặt mang nét chân dung giống như tượng ở chùa Kim Liên, khắc khổ nhưng dịu hiền. Nổi lên là đôi mắt triết học chứa đựng một tư tưởng mênh mông xa thẳm, lộ rõ nghị lực siêu phàm trong trì giới.
  • A Nan Đà (Tổ thứ hai): Gương mặt trẻ trung, đầy đặn tươi vui, miệng cười hớn hở biểu hiện đúng tính chất hoan hỉ của cái tên Ananda. Hai tay chắp trước ngực dưới ấn Liên Hoa, biểu hiện lý và trí, phàm và thánh cùng một nguồn cội.
  • Thương Na Hòa Tu (Tổ thứ ba): Dáng ngồi buông chân trên chiếc ghế gồ ghề giả đá, mặt gầy, trán cau, mắt đăm chiêu nhìn thẳng đầy suy tư, má nhiều nếp nhăn, môi mỏng. Động tác tay chân hờ hững phối hợp với khuôn mặt để đề cao sự lao động của trí óc.
  • Đề Đa Ca (Tổ thứ năm): Khuôn mặt trầm tư, thông minh với vầng trán rộng, phần sơn căn ở giữa hai lông mày cau lại biểu hiện sự tập trung cao độ, mũi thẳng hơi bạnh, môi mỏng cong phảng phất nét kiêu kỳ.
  • Bà Tu Mật (Tổ thứ bảy): Tượng ở tư thế đứng, trán dồ thấp, đội một vành khăn nhỏ nổi lên, mắt khép hờ, sống mũi cong, miệng há vừa phải cười hớn hở, môi mỏng, cằm nhọn nhô ra để nhấn mạnh nụ cười bản chất. Hai tay chắp lại giơ cao trong kiểu ấn Mật phùng, lột tả nét hồ hởi sởi lởi rất sống động.
  • Phật Đà Nan Đề: Được thể hiện béo tốt với cách ngồi gần như tượng Di Lặc, đầu hơi nghiêng hợp với tay phải giơ cao như đang ngoáy tai, má nổi khối tròn, miệng cười sởi lởi khoái cảm làm mép hằn nhiều nếp nhăn, vú xệ tròn và bụng nở căng đều để hở.
  • Phật Đà Mật Đa (Tổ thứ chín): Dáng ngồi buông chân, người béo vừa phải, sọ nở cao lên ở nửa phía sau, mặt nổi khối ở má, trán rộng có sống nổi dọc ở giữa, lông mày nổi hằn, mũi hơi khoằm, miệng cười hé mở, môi mỏng. Tay phải giơ cao như trong thế chống gậy giống trong sách Thiền Uyển Kế Đăng Lục.
  • Hiếp Tôn Giả (Tổ thứ mười): Tượng trong thế đứng tì cây. Sự thông minh được thể hiện ở chiếc sọ nở rất to, trán cao rộng. Mắt nhìn ra xa mà như nhìn vào chính tâm mình trong nét suy tư sâu thẳm. Gò má nổi, hàm thon, miệng mím nhẹ phối hợp hài hòa làm nổi bật những điều tôn giả đang trăn trở.
  • Bồ Tát Mã Minh (Tổ thứ mười hai): Miệng cười nhẹ, mép không có nếp nhăn, mắt nhìn ngang như đang biện thuyết. Vai trái để trần, áo tụt xuống cánh tay co ngang, tay phải chống thẳng phía sau. Ba bộ kinh được trưng bày dưới dạng ba cuốn sách bó lại với nhau do rồng đội đặt ở phía trước.
  • Ca Tỳ Ma La (Tổ thứ mười ba): Tượng đứng, đầu nổi bướu, trán rộng, mắt nhỏ nhìn nghiêm nghị, sống mũi cong, miệng mím, môi mỏng. Vòng quanh dưới hông là một con rồng – biểu thị một chúng sinh được ngài khuất phục thành đồ đệ.
  • Long Thụ Tôn Giả (Tổ thứ mười bốn): Dáng ngồi tĩnh tu, cả tay chân đều ẩn kín trong áo cà sa. Bộ mặt của người có tuổi, khắc khổ đầy suy tư. Đầu nổi bướu gần với nhục khấu, trán lớn với ba nếp nhăn, mắt nhìn xuống soi rọi nội tâm, mũi lớn, môi mím mỏng cong lên. Do được coi là Phật sống nên chỉ duy nhất tượng này được ngồi trên đài sen.
  • La Hầu La Đa (Tổ thứ mười sáu): Thế ngồi nghỉ, tay cầm gậy chống phía trước, bên cạnh có con hươu. Mặt tượng nghiêm chỉnh, ngay ngắn, rõ nét chân dung với trán rộng, mắt nhìn vào khoảng không suy nghĩ, mày gò, gò má nổi, má hóp, miệng mím môi mỏng. Tượng đội khăn phủ chảy đều xuống hai vai, các ngón tay có móng dài, mang bóng dáng thư thái của người tầng lớp trên.
  • Tăng Già Nan Đề (Tổ thứ mười bảy): Dáng ngồi tì cằm trên hai bàn tay đặt trên đầu gối, chân chống, ghi lại tích tu trong động đá. Mặt trầm tư, đỉnh đầu nổi bướu, trán rộng nở không nếp nhăn, mắt nhìn lơ đãng, mũi lớn đẹp tướng, miệng cười nhẹ phúc hậu.
  • Tăng Già Da Xá (Tổ thứ mười tám): Thể hiện đứng tại chỗ, mặt tươi vui, trán rộng đứng, mắt nhìn thẳng, miệng cười mở rộng, cằm vuông vức. Tay trái giơ cao một đĩa tròn tượng trưng cho bánh xe luân hồi.
  • Cưu Ma La Đa (Tổ thứ mười chín): Hình thức khá giống với tượng Di Lặc trong cả cách ngồi và thân hình, có nụ cười tự nhiên, cởi mở thoát tục ánh lên cả mắt, tay phải cầm tích trượng chống xuống.
  • Xà Dạ Đa (Tổ thứ hai mươi): Thân hình gầy guộc lộ rõ xương cốt gần như pho Tuyết Sơn, mặt khắc khổ, sọ nở rất to, mắt nhiều suy tư, trán và má nhiều nếp nhăn. Dáng ngồi thân chống chân co, tay trái để trên gối, tay phải giơ cao quặt ra sau trong thế cầm que gãi lưng.
  • Bát Nhã Đa La (Tổ thứ hai mươi bảy): Hai tay cầm viên ngọc Pháp đưa ra như muốn trao cho Bồ Đề Đạt Ma. Diện mạo tươi vui, đỉnh trán nổi u nhỏ, mắt nhìn thẳng nheo theo miệng cười, tạo dáng dấp tự nhiên, vui vẻ và gần gũi.
  • Bồ Đề Đạt Ma (Tổ thứ hai mươi mốt): Trán rộng thông minh, mắt nhìn vào tâm, miệng hé mở như đang thuyết pháp, mang đặc điểm diện tướng người Ấn với bộ râu quai nón. Tượng ngồi chân co chân chống, bên cạnh chỉ có một chiếc giày gắn với điển tích khi ngài viên tịch.

Nói tóm lại, các pho tượng Tổ chùa Tây Phương đều thống nhất trong một phong cách, mặc cùng một kiểu áo cà sa nhưng nếp áo được người thợ xưa thể hiện biến hóa theo từng dáng ngồi, dáng đứng khác nhau. Những nếp áo ấy hòa quyện với cơ thể và bộ mặt của mỗi nhân vật để đề cao hành trạng nổi bật của từng vị. Dưới bàn tay của những bậc thợ thầy, các khối hình đầy chất điêu khắc hiện lên thanh thoát, sống động như thực. Người nghệ sĩ đã chạm được vào tận nội tâm nhân vật, nói lên những khát khao của con người thực ngoài đời trần thế.

Nghệ Thuật Chạm Khắc Bộ Tượng Hộ Pháp (Kim Cương)

Bộ tượng Hộ Pháp gồm tám pho đặt tại tòa tiền đường cũng là những kiệt tác điêu khắc của chùa Tây Phương, với các vị: Thanh Trì Tai, Tích Độc Thần, Hoàng Tùy Cầu, Bạch Tịnh Thủy, Xích Thanh Hỏa, Đinh Trì Tai, Tử Hiền, và Đại Lực Thần.

Bằng những nhát đục khoáng đạt, chắc tay và nhuần nhuyễn của bậc thầy, người thợ đương thời đã để lại cho đời sau những tác phẩm mang đúng thần thái của các vị Kim Cương lực sĩ quốc thước. Đây là mẫu hình đích thực của các võ tướng với nhiều dạng vẻ nhưng tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc thể hiện xây dựng trên cơ sở thuyết âm dương. Cụ thể, các động tác tay của tượng bao giờ cũng một cao một thấp, một động một tĩnh để biểu hiện sự điều hòa của hai lực đối đãi, tạo thành một cường lực sung mãn trong các thế võ Kim Cương.

Thần trừng ác thì khuôn mặt được diễn tả gồ ghề ở các bộ phận nhằm tạo sự cương quyết, phẫn nộ trước tội ác; còn các vị thần khuyến thiện thì có bộ mặt êm ả, tròn đầy hơn nhiều. Nhưng nhìn chung, qua hình khối vững chắc, đường chạm mạch lạc, dứt khoát, mạnh mẽ, ở các thần đều lộ ra sự thống nhất về sức mạnh vũ trụ kết hợp nhuần nhuyễn với sức mạnh phàm trần.

Các thần đều đội mũ Kim Khôi có bổ sung các vật linh ở đỉnh như bình nước cam lồ, cái giản ba mũi, hay đầu voi… Tượng cao xấp xỉ hai mét, thân hình to mập khác thường, bụng nổi tròn căng biểu hiện một tiềm lực vô hạn của các đô lực sĩ. Tượng mặc áo giáp của võ tướng xưa bó sát người làm căng phồng các khối cơ bắp bên trong. Chiếc áo này được gọi là áo giáp “Nhẫn Nhục”, giúp thần tránh được mọi mũi tên của dục vọng tham, sân, si, ái, ố, hỉ, nộ để tâm luôn kiên định như kim cương mà bảo vệ Phật pháp.

Lời Kết

Chùa Tây Phương là nơi tập trung nhiều tượng Kim Cương nhất trong một cảnh chùa của nước ta. Các pho tượng mang một vẻ đẹp siêu linh mà rất đời thực, tự nhiên trong khối hình, thanh thoát trong cách chạm. Bộ mặt tuy dữ tuy hiền trong sự cường điệu của nghệ thuật nhưng dưới góc nhìn của người làm nghề chúng tôi, chúng vẫn đầy ắp tính nhân bản và là niềm tự hào của điêu khắc Việt.