Nghệ thuật điêu khắc tượng thế kỷ XIX người trong nghề đục đẽo chúng tôi thường nhìn nhận, nếu như nghệ thuật điêu khắc tượng thời Tây Sơn đạt đến đỉnh cao của sự sống động, lột tả sâu sắc nội tâm nhân vật thì bước sang thế kỷ XIX, diện mạo Phật điện lại mang một hơi thở hoàn toàn khác. Nói một cách công bằng, không phải ngôi chùa nào của thế kỷ XIX cũng có đủ mọi loại tượng, song gộp nhặt ở các chùa thì hầu như loại nào cũng có.
Từ bộ Tam Thế, Di Đà, Thích Ca, Di Lặc, Cửu Long, cho đến Quan Âm Thiên Thủ, Quan Âm Thị Kính, các vị Bồ Tát, Khuyến Thiện Trừng Ác, Thánh Tăng, Thổ Địa, rồi cả Ngọc Hoàng Thượng Đế, Thập Điện Diêm Vương… đều xuất hiện đầy đủ. Nhiều chùa còn tạc cả tượng các vị Tổ, tượng Hậu, cùng các thị giả hầu cận bên Bồ Tát. Từ cuối thế kỷ XIX, tượng các ông Hoàng bà Chúa cùng thị giả bắt đầu được hình thành trên bàn thờ riêng trong một kiến trúc phụ của cảnh chùa.
Diện Tướng Và Y Phục Tượng Phật Trên Chính Điện Thế Kỷ XIX
Nói thẳng ra, trên chính điện thời này không để lại cho người làm nghề chúng tôi sự mới mẻ nào về đường nét điêu khắc cả. Vẫn là những pho tượng trầm mặc trong việc soi rọi nội tâm, lành hiền và êm ả – cái tính chất cốt lõi sinh ra từ Phật giáo hòa quyện với tâm thức nông nghiệp của dân tộc mình.
Tuy nhiên, cái khác biệt dễ nhận thấy là các tượng thời này đều được thể hiện đơn giản đi rất nhiều. Các hình thức trang trí cầu kỳ trên tượng bị giảm bớt, ngay cả những hình mang ý nghĩa vũ trụ cũng hiếm thấy, mà chỉ nổi lên duy nhất hình chữ “Vạn” trên ngực tượng Phật mà thôi.
Cà sa tượng gồm nhiều lớp chảy xuôi, đôi khi gấu áo vênh ra, phần ngực bụng để lộ áo trong. Thân hình tượng thường mập mạp, thô và ít mang tính chất chân dung, thiếu đi cái nét nghệ thuật tinh tế. Tượng thường có bụng lớn bệ vệ, nổi hẳn qua nếp áo. Những hình thức này hoàn toàn vượt ra ngoài nguyên tắc thể hiện của tượng thế kỷ XVI và nửa đầu thế kỷ XVII. Người trong nghề nhìn vào là thấy ngay hình thức tượng được sinh ra từ một nhận thức khác, sự béo tốt này như chứa đựng việc cầu phồn thực vốn đã chớm xuất hiện từ giữa thế kỷ XVII.
Cái hay là pho tượng được thể hiện lớn nhất trên Phật điện thường là tượng A Di Đà ngồi thiền định trên tòa sen theo kiểu bụt ốc. Thời bấy giờ, tông phái Tịnh Độ đã phổ cập sâu rộng, câu “Nam mô A Di Đà Phật” đã trở thành lời cửa miệng của người dân. Phật A Di Đà như một thế lực siêu linh vượt lên trên để cứu vớt, là nơi người ta nương dựa để lòng mình an tĩnh. Chính vì thế mà tượng Ngài được quan tâm làm lớn hơn hết thảy trên Phật điện.
Điểm Nhấn Tượng Thích Ca Sơ Sinh Và Các Vị Thiên Đế
Đáng chú ý trên Phật điện giai đoạn này còn có tượng Thích Ca sơ sinh và tượng Ngọc Hoàng. Lối tạc tượng Thích Ca sơ sinh thuở thế kỷ XVI mới chỉ là một chú bé đứng trên đài sen, tay trái chỉ trời, tay phải chỉ đất. Sang thế kỷ XVII, người ta làm thêm một vành bao bằng chín con rồng như trình bày trên một mặt phẳng.
Tới thế kỷ XIX, về cơ bản tượng vẫn giữ dạng một chú bé mặc váy ngắn, song khuôn mặt có phần tròn trịa hơn, chiếc váy lúc dài lúc ngắn, có lúc gấu váy lại vênh ra trông rất ngộ nghĩnh và phổ biến rộng khắp. Lối tạo hình bên ngoài của từng pho như chứa đựng cái cơ thể lực lưỡng của võ sĩ vật trên nghệ thuật đình làng, lại vừa có cái vui tươi của trẻ nhỏ, mang một sức sống khởi nguyên trong sáng mà không kèm theo những biểu tượng khó hiểu.
Rất hằn hữu mới có tượng mang ba mặt như pho tượng nhỏ ở chùa Đồng Kỵ (Tiên Sơn – Hà Bắc). Ba khuôn mặt trên cùng một đầu, một cơ thể như biểu hiện sự tổng hòa của ba siêu lực vũ trụ chi phối cuộc đời muôn vật. Phật là sự tổng hòa đó, hiện thân nơi trần thế trong hình hài đứa trẻ, nhưng tay trái chỉ trời tay phải chỉ đất khẳng định tâm đại ngã thường tồn “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn”, hoàn toàn phù hợp với quy luật âm dương.
Cái khéo của người thợ thế kỷ XIX là còn thực hiện quanh tượng Thích Ca sơ sinh nhiều đề tài gắn với tích truyện: chín con rồng phun nước tắm cho Phật, điểm xuyết thêm các thiên thần và nhạc sĩ thiên thần từ thiên quốc xuống hạ giới dâng nhã nhạc hòa tấu vang động bầu trời. Đằng sau tượng còn chạm một thân cây vươn lên, chính là bóng dáng cây vô ưu gắn với tích Mẹ Phật vịn cây mà sinh ra Người.
Trong số các thiên thần hộ vệ, nổi hơn cả là Đế Thích và Đại Phạm Thiên Vương (Phạm Vương ngồi bên phải, Đế Thích ngồi bên trái tượng Thích Ca sơ sinh). Cả hai vị thường ngồi trên bục hoặc ngai, mặc y phục Hoàng đế với mũ bình thiên, áo thụng đỏ sẫm hoặc nâu, tay có móng dài, chân buông thẳng đi hài như ở chùa Tây Phương. Thực tế, nhiều chùa không phân định rạch ròi mà hợp nhất hai vị này cùng đấng Hoàng quân giáo chủ của đạo Lão thành một pho duy nhất đặt ở chính giữa, gọi chung là Ngọc Hoàng, mặc áo mũ màu đỏ đậm và tử kim.
Lối Tạc Tượng Tổ Và Sự Phát Triển Thay Thế Tượng Hậu
Một mảng tượng khác mang nhiều giá trị nghệ thuật đương thời là tượng Tổ. Đây là những pho tượng mang tính chất chân dung đích thực, ghi lại hình ảnh của vị sư từng trụ trì trong chùa. Tượng thường được tạc to bằng người thực, nét mặt sống động như một nhà sư đang ngồi tọa thiền.
Bằng sự ngưỡng mộ, nghệ nhân chúng tôi đã làm đẹp hơn thực tế, đưa vào đó dáng vẻ thanh thoát, trầm mặc, thấm đượm cả đôi nét thuộc sở thích riêng của nhà sư. Mỗi vị một cuộc đời, một khuôn mặt khác nhau nên mỗi pho tượng đều có nét riêng biệt, dù các vị đều khoác lên mình một kiểu áo cà sa đơn sơ, ít nếp như nhau.
Trước thế kỷ XIX, ngoài tượng Phật và Bồ Tát thì tượng Hậu Phật được làm khá nhiều, còn tượng Tổ hầu như rất ít, các nhà sư hiếm khi để lại di ảnh mà chỉ có tháp do đồ đệ xây. Nhưng từ thế kỷ XIX trở đi, tượng Tổ mới trở nên phổ biến. Thực tế này như một yêu cầu tất yếu khi đạo Phật đi vào bước suy vi và nền kinh tế tư nhân chiếm địa vị tác động đến bộ mặt xã hội.
Sự Đối Lập Giữa Tượng Hộ Pháp Đất Và Tượng Gỗ Nhỏ Dân Gian
Trong chùa thế kỷ XIX có sự đối lập rõ rệt về kích thước giữa hai loại tượng: tượng Hộ Pháp to lớn và hệ thống các tượng nhỏ bằng gỗ.
Tượng Hộ Pháp Khuyến Thiện – Trừng Ác
Hầu như Hộ Pháp ở thế kỷ XIX chỉ được đắp bằng đất, gồm hai pho Khuyến Thiện (mặt trắng, hiền lành) và Trừng Ác (mặt đỏ, dữ tợn). Cả hai vị đều đội mũ kim khôi đáp nổi hình rồng và hoa lá nhỏ.
Tuy nhiên, thân hình tượng thời này bị bệ vệ, phục phịch, bụng lớn, chỉ biểu hiện được cái sức mạnh thô phác mà mất đi vẻ nhanh nhẹn, cương quyết vốn có của Kim Cương thời trước. Tượng được tạc thế tay cao tay thấp, một tay chống nạng ngồi tựa trên con sư tử, mặc áo giáp Nhẫn Nhục với các chi tiết trang trí rồng, hổ phù, hoa lá nhỏ có phần vụn vặt.
Hệ Thống Tượng Gỗ Nhỏ Và Tượng Tín Ngưỡng Dân Dã
Ngược lại, những pho tượng nhỏ bằng gỗ lại mang giá trị nghệ thuật rất cao nhờ lối chạm khắc tỉ mỉ. Điển hình như pho Ca Diếp chỉ cao hơn 30cm nhưng kế thừa hoàn chỉnh nét tinh hoa của tượng Tây Phương: mặt đậm nét chân dung, khắc khổ, gầy guộc, trán hằn nếp nhăn, áo cà sa với các nếp mềm mại nhuần nhuyễn. Dù toàn thân tượng chỉ dài hơn năm đầu nhưng nhìn vẫn rất thuận mắt.
Các pho tượng nhỏ ở chùa Trà Phương (Hải Phòng) cũng cùng dáng dấp này nhưng to ngang hơn, tỷ lệ thân so với đầu chỉ khoảng hơn bốn lần. Trong khi đó, tượng thị giả ở các điện Mẫu thường không bị lệ thuộc vào công thức: người mặc áo nâu, người vấn khăn, người mặc áo tứ thân dâng hoa hay làm nhạc công… Lối chạm khắc mộc mạc, tự nhiên mang đậm màu sắc dân gian tạo nên một vẻ đẹp đột ngột mà vui tươi.
Người ta cũng bắt gặp tượng “Bát tiên quá hải” hay các vị Bồ Tát gắn trên đồ thờ nghi trượng dưới hình thức bát bửu với khuôn mặt đầy chất chân dung, động tác mạch lạc trên nền áo cà ca khi động khi tĩnh.
Đặc biệt, thế kỷ XIX chứng kiến ngôi chùa hội nhập mạnh mẽ các thần linh thuộc tín ngưỡng cổ truyền. Tiêu biểu là tượng thần Độc Cước – vị thần linh thiêng của cư dân đi biển, thường được thờ ghép ở các chùa ven biển, cửa sông. Tượng Độc Cước được tạc theo lối bổ dọc nửa người: một chân, một mắt, một mũi, một mồm, một tai, một tay, mình mặc áo giáp, tay nắm chắc giơ cao hoặc để xuôi. Mặt tượng dữ tợn, mắt trợn, má gồ nổi khối, xung quanh và dưới chân là những đám mây cuộn ken nhau như đang ló ra từ màn sương. Tượng chỉ cao khoảng 20cm đến 30cm, biểu tượng cho mặt trăng qua sự “thiếu thốn” trên cơ thể, mang lại sự bình an, luồng cá cho dân chài.
Bên cạnh đó là tượng Tứ Trấn. Nếu làm bằng đất thì tượng to lớn như Kim Cương ngồi trên núi đá, chân dẫm lên đầu quỷ (chùa Bối Khê). Nhưng khi làm bằng gỗ, Tứ Trấn lại rất nhỏ, chỉ cao khoảng 20cm, tạc hình một Kim Cương cưỡi trên linh thú hoặc quỷ dữ với động tác tự do, phóng khoáng như ở chùa Vị Dương (Quảng Ninh).
Sự Bùng Nổ Của Tượng Dân Dã Vào Cuối Thế Kỷ XIX – Đầu Thế Kỷ XX
Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, dưới ách đô hộ của thực dân phương Tây, mạch luân lý đạo đức cổ truyền bị gãy đổ, không còn đủ sức bao trùm xã hội thành một hệ tư tưởng chính thống. Thế nhưng, lòng tin vào thần linh và cuộc đấu tranh giữa chính – tà vẫn mạnh mẽ, tạo điều kiện cho các tượng gắn với tín ngưỡng dân dã phục hồi.
Các đề tài về Thập Diện Diêm Vương cùng quỷ dữ xuất hiện rầm rộ nhằm răn ác khuyến thiện. Sinh ra từ tư duy liên tưởng dân dã thiếu quy củ, nhiều pho tượng quỷ sứ ra đời như một hiện tượng vô tiền khoáng hậu. Ví như ở chùa làng Tây Mỗ (Từ Liêm – Hà Nội), có pho tượng gỗ nhỏ cao 30cm chỉ một thân người mà mọc ra ba cái đầu quỷ riêng biệt, tai vểnh cao, mắt lồi tròn, mặt gồ ghề dữ tợn, chân tay gầy guộc. Pho khác lại mang đầu trâu tả thực, pho khác nữa lại mang đầu ngựa với bố cục đậm chất dân gian, hồn nhiên, tạo tác mạnh bạo và thành công đột ngột.
Ý thức dân dã ấy còn tạo nên hàng loạt hang động bằng đất với các hốc hang đầy hình nhân cách, nói về thế giới Phật giáo và Diêm Vương. Các động này không cái nào giống cái nào, dù nghệ thuật tạc tượng không quá cao nhưng bố cục vui mắt, phản ánh sinh động một khía cạnh bộ mặt xã hội đương thời.
