Lễ hội Tháp Bà Chúa Xứ Núi Sam: Hành trình tâm linh và biểu tượng văn hóa Nam Bộ

  1. Đối tượng suy tôn: Bà Chúa Xứ.

  2. Địa điểm: Núi Sam, phường Núi Sam, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

  3. Thời gian: Từ ngày 23 đến ngày 27 tháng tư âm lịch (Chánh lễ: ngày 25 tháng tư âm lịch).

  4. Đặc điểm: Là lễ hội lớn nhất Nam Bộ.

Kiêu hãnh giữa vùng đồng bãi bao la của vùng biên thùy phía Nam, Tây Nam Tổ quốc, núi Sam hiện lên như một hòn ngọc bích quý giá nổi bật giữa nền mây nhạt màu trứng sáo. Với chiều cao 237 mét cùng chu vi 5.200 mét, đây chính là ngọn núi tiền đồn của dãy Thất Sơn huyền bí, mở đầu cho bức tranh sơn thủy hữu tình của tỉnh An Giang.

Nơi đây sở hữu một quần thể di tích lịch sử – văn hóa vô cùng đặc sắc bao gồm chùa cổ Tây An, miếu Bà Chúa Xứ, Chùa Hang, Pháo Đài, đồi Bạch Vân, đồi Đá Chẹt, vườn Tao Ngộ và miếu Sơn Thần. Đặc biệt, khu vực này còn có lăng Thoại Ngọc Hầu uy nghi, cổ kính. Chính những danh lam thắng cảnh này đã tạo nên sức hút khó cưỡng cho thị xã ngã ba sông Châu Đốc, khai sinh ra câu nói quen thuộc của giới lữ hành: “Đến An Giang mà không ghé thăm Châu Đốc, không đến núi Sam là coi như chưa đến An Giang”. Tại đây, du khách sẽ được chiêm ngưỡng một vùng đất sát biên giới Campuchia hội tụ đủ cả sông dài, núi cao, đền đài cổ kính và đồng bằng bát ngát.

Cẩm nang di chuyển đến khu di tích Núi Sam

Để tham gia Lễ hội Tháp Bà Chúa Xứ Núi Sam, hành khách có thể lựa chọn các lộ trình thuận tiện sau:

  • Đường bộ: Xuất phát từ thành phố Long Xuyên, hành khách đi theo tuyến tỉnh lộ 10 để lên đến Châu Đốc, sau đó tiếp tục rẽ vào khoảng 7 km nữa là tới tận chân núi. Ngoài ra, du khách cũng có thể chọn con đường bộ khác đi từ Tịnh Biên lên theo ngả Nhà Bàng – tuyến đường chạy sát biên giới Campuchia.
  • Đường thủy: Khách hành hương có thể đi đò máy từ các tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng lên hoặc di chuyển từ Sài Gòn xuống. Chuyến đi bằng đường sông này mất khoảng một ngày một đêm để đến bến đò Châu Giang, từ đây du khách tiếp tục đi đường bộ thêm 7 km để vào miếu.

Mỗi năm, mảnh đất này đón tiếp hàng triệu lượt người đến thưởng ngoạn. Thống kê cho thấy lượng khách đổ về đông đảo nhất luôn vào dịp Vía Bà, diễn ra từ ngày 23 đến ngày 27 tháng 4 âm lịch, trong đó ngày chánh vía là ngày 25 tháng 4.

Nguồn gốc pho tượng và các truyền thuyết bí ẩn về Miếu Bà

Cho đến nay, các tư liệu thành văn vẫn chưa xác định rõ ràng xuất xứ cũng như niên đại chính xác của pho tượng Bà Chúa Xứ. Tượng được tạc từ một loại đá tốt màu xanh, không hề trùng khớp với các loại đá tự nhiên có ở vùng núi Sam. Tượng mang hình dáng của một vị nam thần, cánh tay bên phải bị gãy và đã được phục chế lại sau này bằng một chất liệu đá khác. Dựa vào các đường nét chạm khắc, một số nhà khảo cổ học nhận định tác phẩm này mang phong cách của nghệ thuật trung cổ Ấn Độ.

Ngôi miếu thờ ban đầu được dựng lên bằng cây lá đơn sơ vào khoảng những năm 1820 – 1825. Xoay quanh lai lịch của ngôi miếu và pho tượng, người dân lưu truyền 4 truyền thuyết lớn:

  1. Truyền thuyết tiều phu đốn củi: Thuở xưa, khi người dân địa phương vào sâu trong núi đốn củi đã tình cờ phát hiện ra pho tượng nằm giữa rừng hoang. Họ liền về báo cho dân làng để cùng nhau khiêng tượng xuống núi, lập miếu phụng thờ.
  2. Truyền thuyết về 9 cô gái đồng trinh: Chuyện kể rằng có một vị thần linh tự xưng là Bà Chúa Xứ Châu Đốc hiển linh báo mộng cho các bộc bô lão. Thần bảo hãy kén chọn 9 cô gái đồng trinh lên đỉnh núi Sam để đưa tượng về hạ giới lập miếu thờ, đổi lại thần sẽ phù hộ cho mưa thuận gió hòa, dân làng làm ăn phát đạt. Người dân làm theo và quả nhiên tìm thấy pho tượng đá trong tư thế ngồi, mắt nhìn thẳng về phía trước. Dân làng rước tượng về, kỳ cọ sạch sẽ rồi lập miếu thờ, lấy ngày an vị này làm ngày Vía Bà hằng năm.
  3. Truyền thuyết gắn liền với công tích của Thoại Ngọc Hầu: Dưới triều vua Minh Mạng, danh thần Thoại Ngọc Hầu (1760 – 1829, tên thật là Nguyễn Văn Thoại, quê ở huyện Diên Phước, Quảng Nam) giữ trọng trách Trấn thủ Vĩnh Thanh – vùng đất rộng lớn bao gồm một phần các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cửu Long và Kiên Giang ngày nay. Ông là người có công lao vĩ đại trong việc chỉ huy đào kênh Đông Xuyên (nối Long Xuyên với Rạch Giá) và kênh Vĩnh Tế (nối Châu Đốc với Hà Tiên) để khẩn hoang lập ấp, bảo vệ biên cương. Mỗi lần ông cầm quân ra trận đánh giặc ngoại xâm, bà vợ chánh thất là Châu Thị Tế lại đến miếu Bà Chúa Xứ thành tâm cầu nguyện cho chồng thắng trận. Để tạ ơn sau khi các ước nguyện đều ứng nghiệm, bà đã cho xây cất lại ngôi miếu khang trang, to đẹp hơn. Lễ khánh thành miếu diễn ra trong 3 ngày: 24, 25, 26 tháng 4 âm lịch, trở thành cột mốc cho ngày hội Vía Bà sau này.
  4. Truyền thuyết về lễ cầu mùa nông nghiệp: Một giả thuyết khác gắn liền với tập quán sản xuất của cư dân bản địa. Tháng 4 âm lịch là thời điểm người nông dân xuống giống làm mùa. Họ tổ chức đại lễ cầu Bà với mong muốn vụ mùa bội thu, lâu dần hội làng Vĩnh Tế mở rộng thành lễ hội quy mô lớn thu hút khách thập phương.

Quy trình tổ chức các nghi thức nghiêm ngặt tại lễ hội

Chuỗi sự kiện tâm linh kéo dài từ ngày 23 đến hết ngày 27 tháng 4 âm lịch được thực hiện một cách chặt chẽ qua các bước:

1. Lễ Mộc dục – Tắm Bà (0 giờ đêm 23 rạng ngày 24 tháng 4)

Đây là nghi lễ thu hút đông đảo người tham dự nhất, biến đêm rạng sáng ngày 24 thành khoảng thời gian nhộn nhịp nhất của lễ hội. Khi màn đêm buông xuống, khu vực nội khu và ngoại khu miếu đều đông nghẹt người.

Buổi lễ bắt đầu bằng việc thắp sáng hai ngọn nến lớn trước bệ thờ. Ông chánh bái trong trang phục khăn đóng áo dài cùng các bô lão tiến vào chánh điện dâng hương, trà và rượu. Một bức màn vải ren thêu hoa sặc sỡ được kéo lên để che khuất khu vực tượng. Một ban phụ nữ gồm bốn đến năm người đã được tuyển chọn kỹ lưỡng bước vào bên trong màn để thực hiện việc tắm Bà. Họ cởi bỏ mũ mão, cân đai, áo bào cũ rồi dùng những chiếc khăn nhỏ nhúng vào chậu nước thơm (nấu từ hoa lài, quế kết hợp nước hoa loại tốt) để lau sạch tượng.

Những người phụ nữ còn lại tay cầm cành huệ trắng, liên tục niệm khấn trang nghiêm. Kết thúc bằng việc xịt nước hoa cao cấp lên toàn thân tượng, khoác bộ xiêm y và mũ mão mới thêu đính kim sa lấp lánh rồi kéo màn lên để người dân vào chiêm bái. Ngày nay, các hủ tục như chen lấn xin nước tắm tượng để chữa bệnh hay xé vải áo cũ làm bùa hộ mệnh đã hoàn toàn bị xóa bỏ; thay vào đó, “lộc Bà” được phát cho người dân là những bông hoa, trái cây đã dâng cúng.

2. Lễ Túc yết và rước bài vị (Nửa đêm ngày 25 rạng ngày 26 tháng 4)

Vào lúc 16 giờ chiều ngày 25, Ban quản trị cùng các cụ già quần áo chỉnh tề cử hành nghi thức di chuyển từ miếu Bà sang lăng Thoại Ngọc Hầu. Bản chất của nghi lễ này là thỉnh bài vị của cụ Thoại Ngọc Hầu, bà chánh thất Châu Thị Tế, bà thứ thất Trương Thị Miệt và một bài vị “Hội đồng” (thờ các quan quân theo phò tá quan Trấn thủ lúc sinh thời) về miếu Bà tham dự lễ hội, chứ không phải thỉnh sắc phong cho Bà như một số tài liệu trước đây lầm tưởng.

Dẫn đầu đoàn rước là đội múa lân sôi động, tiếp theo là học trò lễ tay cầm cờ phướn đi hầu hai bên chiếc kiệu Long đình sơn son thếp vàng do 4 người khiêng. Đến lăng, ông chánh bái dâng hương rồi thỉnh bài vị lên kiệu rước về miếu.

Phần tế lễ Túc yết sử dụng các vật phẩm: một con lợn trắng đã cạo lông sạch sẽ để sống, một đĩa huyết lợn kèm nhúm lông nhỏ, mâm trái cây, trầu cau, muối và gạo. Sau ba hồi trống chiêng, nhạc lễ nổi lên, đội học trò lễ mặc áo thụng mang giày cao cổ cùng bốn cô đào cầm quạt hóa trang đi thành hai hàng thực hiện các động tác dâng hương dâng trà. Nghi lễ khép lại bằng việc ông chánh bái hóa văn tế và giấy tiền vàng bạc.

3. Lễ Xây chầu và hát bộ (Ngay sau lễ Túc yết)

Nghi thức được thực hiện tại nhà võ ca. Sau lời cầu nguyện cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, vị chủ tế đặt tô nước cành dương lại bàn thờ, nâng dùi trống chầu lên xá ba xá rồi đánh ba hồi trống dài, xướng lớn: “Ca công tiếp giá!”. Ngay lập tức, chương trình hát bộ nghệ thuật truyền thống bắt đầu. Theo tập quán lâu đời, các đoàn hát được mời về biểu diễn đều tự nguyện hát thêm một suất cúng Bà hoàn toàn miễn phí thù lao.

4. Lễ Chánh tế và lễ Hồi sắc (Ngày 27 tháng 4)

Các nghi thức cúng lễ trong ngày 27 được tổ chức với quy trình gần giống như lễ Túc yết. Đến khoảng 16 giờ chiều cùng ngày, ban Quản trị miếu tiếp tục tụ họp để cử hành lễ Hồi sắc, rước các bài vị từ miếu Bà trở lại nơi thờ tự cũ tại lăng Thoại Ngọc Hầu, chính thức bế mạc ngày hội.

Không gian ngày hội văn hóa trù phú miền biên viễn

Trong những ngày diễn ra lễ hội, trên suốt chặng đường dài 7 km nối từ trung tâm thị xã Châu Đốc đến chân núi Sam luôn diễn ra khung cảnh “ngựa xe như nước, áo quần như nêm”. Đủ các loại phương tiện như xe đạp, xe máy, ô tô con, xe buýt, xe lam nối đuôi nhau đậu kín đường. Đó là chưa kể lượng du khách khổng lồ di chuyển bằng đường thủy từ hướng Cà Mau, Sóc Trăng, Cần Thơ hay Kiên Giang đổ về.

Bên cạnh mục đích tâm linh như cầu tài, cầu lộc, mong cầu sự phù hộ cho việc kinh doanh buôn may bán đắt, ngày hội còn là dịp để nam thanh nữ tú khắp nơi về vui chơi, trình diễn những bộ trang phục đẹp mắt. Dọc theo các tuyến đường, hàng trăm nhà hàng, quán ăn, nhà nghỉ mọc lên san sát. Nhiều hoạt động giải trí sôi nổi như ảo thuật, xiếc, mô tô bay được tổ chức liên tục. Những người làm dịch vụ và buôn bán tại đây đều thuộc nằm lòng quy tắc ứng xử hòa nhã, tuyệt đối tránh việc thách giá hay tranh chấp, bởi dân gian luôn tin vào sự công minh của bề trên tại chốn linh thiêng này.

Trải qua dòng chảy của thời gian, Lễ hội Tháp Bà Chúa Xứ Núi Sam đã vượt tầm một hội làng thời khẩn hoang để trở thành ngày hội dân gian lớn bậc nhất của vùng đồng bằng sông Cửu Long, kết tinh những giá trị lịch sử, đạo lý nhân văn và tinh thần đoàn kết gắn bó của cộng đồng cư dân Nam Bộ.