-
Đối tượng suy tôn: Linh Sơn Thánh Mẫu.
-
Địa điểm: Núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh.
-
Thời gian:
-
Hội xuân từ ngày 15 đến ngày 18 tháng giêng.
-
Lễ Vía Bà từ ngày 5 đến ngày 6 tháng năm.
-
-
Đặc điểm: Có 2 ngày hội lớn trong năm.
Nằm kiêu hãnh giữa dải đất biên thùy, điện thờ Linh Sơn Thánh Mẫu tọa lạc tại lưng chừng núi Bà Đen – ngọn núi được mệnh danh là nóc nhà của vương quốc Nam Bộ với độ cao 884 mét. Địa danh tâm linh này nằm cách trung tâm thị xã Tây Ninh chừng 11 km. Nhờ những làn mây trắng xóa quanh năm bao phủ đỉnh chóp, ngọn núi còn có danh xưng mỹ miều khác là Vân Sơn. Hằng năm, Lễ hội đền Linh Sơn là điểm hẹn văn hóa thu hút hàng vạn khách hành hương về chiêm bái, hướng lòng thành kính về bậc mẫu nghi thiên hạ.
Hai truyền thuyết ly kỳ về Linh Sơn Thánh Mẫu
Xoay quanh danh tính của vị chủ thần núi Bà Đen, trong dân gian lưu truyền hai câu chuyện huyền thoại mang sắc màu kỳ bí đầy xúc động:
Huyền thoại về nàng Đênh xuất gia cứu đạo
Truyền thuyết thứ nhất kể rằng, thời xa xưa tại vùng đất Tây Ninh, có viên quan Trấn thủ địa phương hạ sinh được một người con gái hiền thục, đặt tên là nàng Đênh. Thuở lên 13 tuổi, nàng được đấng sinh thành gửi gắm cho một vị thiền sư người Hoa để thụ giáo học đạo. Đến độ tuổi cập kê, con trai của viên Tri huyện đang trấn nhậm tại vùng Trảng Bàng đã đem lòng mến mộ và ngỏ lời cầu hôn. Nhận thấy hai bên gia thế tương xứng, môn đăng hộ đối, cha mẹ nàng Đênh đã hứa hôn. Tuy nhiên, vì một lòng hướng Phật và ôm nguyện ước xuất gia cầu đạo, nàng đã một mực khước từ cuộc hôn nhân này.
Vào một đêm thanh vắng khi gia đình đang say giấc, nàng Đênh bí mật trốn nhà, men theo đường mòn tìm đường lên tá túc tại ngôi chùa trên núi. Thật không may, trên lối đi hiểm trở giữa rừng sâu, nàng đã bị cọp vồ hạ sát. Ngày hôm sau, khi gia nhân theo lệnh của quan Trấn thủ tìm kiếm khắp nơi, họ chỉ phát hiện phần thi thể còn sót lại là một chiếc chân nằm kẹt trong khe đá. Nỗi đau xót tột cùng khiến song thân nàng lập tức hạ lệnh cho quân lính mai táng phần di cốt ngay trên núi, đồng thời xây cất một ngôi miếu nhỏ để thờ phụng. Tin rằng cái chết trẻ của nàng Đênh là một nỗi oan khiên tất sẽ linh hiển, dân chúng quanh vùng mỗi khi gặp chuyện gian truân đều tìm đến miếu cầu xin và được chở che. Tiếng lành đồn xa, chốn hương khói ngày một đông đúc.
Gắn liền với tích này, dân gian kể rằng thuở bị quân Tây Sơn truy kích từ vùng Gia Định, Nguyễn Ánh đã nương theo dòng sông Vàm Cỏ ngược lên Tây Ninh để tìm đường bôn tẩu sang Xiêm. Lúc thế sự nguy nan, ông đã ghé vào ngôi miếu cổ khấn nguyện nàng Đênh phù trợ tai qua nạn khỏi và quả nhiên thoát hiểm thành công. Sau khi đăng cơ lập quốc, hoàng đế Gia Long nhớ ơn xưa đã hạ chiếu đúc một pho tượng bằng đồng (với tư thế ngồi, chiều cao 42 cm, chiều ngang 24 cm và trọng lượng khoảng 10 kg) đồng thời sắc phong danh hiệu Linh Sơn Thánh Mẫu, lệnh cho quan địa phương kiến thiết điện thờ quy mô. Cũng từ đây, ngọn núi vốn có tục danh là núi Một (ngọn núi đứng cô độc) được người dân gọi bằng những tên mới như núi Điện Bà hay núi Bà Đênh, lâu dần đọc trại thành núi Bà Đen. Hiện tại, pho tượng đồng cổ thời nhà Nguyễn được tôn thờ tại chùa Phước Lâm thuộc thị xã Tây Ninh, còn bức tượng ngự nơi điện Bà trên núi được chế tác bằng xi măng.
Huyền thoại về người con gái chung thủy Lý Thiên Hương
Một câu chuyện khác lại ghi nhận thời cổ xưa, ngọn núi mang tên là núi Một, trên đỉnh có ngôi tháp đá thờ Phật cổ kính mà cư dân thường lên lễ bái vào ngày mùng một, rằm hằng tháng. Trong số những thiện nam tín nữ mộ đạo, có cô gái quê ở Trảng Bàng tên là Lý Thiên Hương. Nàng tuy có nước da đen đúa nhưng lại sở hữu nét duyên thầm, khiến con trai viên tri huyện Trảng Bàng đem lòng dòm ngó. Một lần từ chùa núi trở về, Lý Thiên Hương bị nhóm gia nhân của công tử quan huyện chặn đường trêu ghẹo, sàm sỡ. Giữa tình thế khốn đốn, nàng may mắn được Lê Sĩ Triệt – một chàng trai giỏi võ cùng quê – kịp thời giải vây. Từ ơn cứu mạng, hai người nảy sinh tình cảm sâu đậm.
Tuy nhiên, thời cuộc loạn lạc, Lê Sĩ Triệt phải nghe theo tiếng gọi tòng quân, lên đường ra trận. Ở lại quê nhà, nàng giữ trọn lòng son sắt chờ đợi. Trong một lần lên núi Một dâng hương, nàng lại bị đám tay chân của con trai tri huyện tổ chức bắt cóc. Để bảo toàn tiết hạnh giữa chốn núi rừng hoang vu, Lý Thiên Hương đã gieo mình xuống hố sâu tự vẫn. Vị thiền sư trụ trì ngôi chùa trên núi sau khi được báo mộng đã lần theo lối mòn tìm thấy thi hài nàng, tổ chức chôn cất chu đáo và dựng miếu thờ phụng. Dựa theo màu da của nàng, người đời tôn kính gọi là Bà Đen, và danh xưng núi Một cũng dần chuyển thành núi Bà Đen.
Để tăng thêm phần uy nghiêm cho “vương mệnh” nhà Nguyễn, người xưa còn thêu dệt câu chuyện Bà Đen xuất hiện trong giấc mộng chỉ đường cho Nguyễn Ánh lánh nạn sang Xiêm, hay tích chiến thuyền Tây Sơn va vào đá ngầm chìm đắm trong đêm tối. Dù sắc phong của vua Gia Long hiện không còn tìm thấy, hậu thế vẫn lưu giữ được bản sắc phong dưới thời vua Bảo Đại ban tặng cho Bà với danh xưng “Linh Sơn Thánh Mẫu tôn thần”. So sánh giữa hai truyền thuyết, dù câu chuyện thứ hai có họ tên quê quán cụ thể, song cốt truyện đầu tiên về nàng Đênh vẫn được đánh giá là có tính thuyết phục cao hơn trong tâm thức dân gian.
Quần thể kiến trúc tâm linh đa tầng bậc tại Núi Bà Đen
Khu di tích núi Bà Đen không chỉ sở hữu một ngôi đền duy nhất mà là cả một tổ hợp kiến trúc nghệ thuật phân bố hài hòa ở nhiều tầng nấc thiên nhiên khác nhau, trải dài từ chân núi lên độ cao gần 400 mét:
- Chùa Phước Trung: Có tên chữ là Linh Sơn Phước Trung tự, tọa lạc ngay dưới chân núi, là nơi đầu tiên đón bước chân khách hành hương rước lễ thờ Phật.
- Hệ thống tháp tổ: Gồm một ngôi tháp lớn bao bọc ba tháp nhỏ bên trong. Ở vị trí trung tâm là tháp thờ Tổ Trương Tùng được xây dựng cao hơn hẳn, mạn bên trái là tháp Tổ Phước Chi và mạn bên phải là tháp Tổ Tâm Hòa.
- Chùa Linh Sơn Tiên Thạch: Ngôi chùa thờ Phật cổ kính nằm ở lưng chừng sườn núi.
- Điện Bà: Được xây dựng trên cùng một mặt bằng và chung khoảng sân rộng với chùa Tiên Thạch. Nội điện là nơi thờ phụng song hành cả Linh Sơn Thánh Mẫu và Bà Chúa Xứ – hai biểu tượng tín ngưỡng dân gian tối cao của người dân Nam Bộ. Hai pho tượng bằng xi măng được tạc ở tư thế ngồi đặt cạnh nhau trang nghiêm, phía sau có hai bức tượng nữ hầu đứng chầu hai bên.
- Chùa Hang: Vốn là một hang đá tự nhiên ở tầng cao hơn, được các thế hệ nghệ nhân tôn tạo khéo léo thành ngôi chùa hai tầng độc đáo, trang trí lộng lẫy.
Tiến trình tổ chức các kỳ lễ hội lớn trong năm
Hằng năm, vào các dịp Tết Nguyên Đán, rằm tháng giêng hay rằm tháng bảy, quần thể di tích luôn tấp nập thiện nam tín nữ. Tuy nhiên, hai sự kiện đỉnh cao thu hút hàng chục vạn du khách thập phương chính là Hội xuân núi Bà và Lễ vía Bà.
Hội xuân núi Bà (Từ ngày 15 đến ngày 18 tháng giêng)
Đây là thời điểm vui tươi và đông đảo nhất trong năm. Vào những ngày đầu xuân, tiết mục khí hậu khô ráo, thảm thực vật trên núi đâm chồi nảy lộc tuyệt đẹp. Suốt chặng đường dài hơn 10 cây số nối từ thị xã Tây Ninh đến chân núi, dòng người và các phương tiện giao thông di chuyển đông như trẩy hội. Hệ thống hàng quán phục vụ ẩm thực, đặc sản, quà lưu niệm và các loại hình vui chơi giải trí hoạt động vô cùng sôi động, náo nhiệt.
Lễ vía Bà chính thức (Ngày 5 và ngày 6 tháng 5 âm lịch)
Đây là kỳ lễ mang tính chất nghi thức nghiêm ngặt của nhà chùa và ban quý tế. Tiến trình lễ hội được thực hiện chặt chẽ qua các bước:
Nghi thức Mộc dục – Tắm Bà (0 giờ đêm mùng 4 rạng sáng mùng 5): Mọi công tác chuẩn bị được hoàn tất từ chiều mùng 4. Đến giờ lành, hệ thống cửa điện thờ được đóng kín tuyệt đối, ngăn cách hoàn toàn với khách tham quan bên ngoài. Nghi thức tắm tượng do một nhóm gồm 6 người phụ nữ đảm nhiệm, trong đó có 3 người thuộc nhà chùa và 3 người do địa phương đề cử, điều hành bởi một lệnh bà cao tuổi nhất.
Sau khi thắp hương vái xin phép Thánh Mẫu, họ cởi bỏ lớp áo bào cũ, dùng khăn sạch tinh lau qua tượng bằng nước sạch, kế đến là lau bằng nước thơm nấu từ các loại hoa lá tự nhiên có hòa thêm nước hoa cao cấp. Nhiều chiếc khăn do khách thập phương gửi trước đó để “tắm Bà” sẽ được giao trả lại để họ mang về lấy khước cầu may. Khi hoàn tất việc lau rửa, tượng Bà được khoác lên xiêm y mới lộng lẫy, đai thắt chỉn chu, đội mão rực rỡ. Các điện thờ sau đó thắp sáng đèn nến, mở rộng cửa đón khách vào lễ bái.
Ngày chính hội (Ngày 5 tháng 5): Tiếng tụng kinh thanh tịnh của các chư tăng mở đầu cho ngày đại lễ từ tinh sương. Khoảng 6 giờ sáng, các vị hòa thượng, sư thầy từ các tự viện lân cận trong những bộ cà sa màu vàng trang nghiêm lần lượt tiến về điện trong tiếng trống chiêng đón rước rộn ràng. Khói hương nghi ngút suốt ngày dài trên tất cả các ban thờ: ban Linh Sơn Thánh Mẫu, ban Bà Chúa Xứ, bàn thờ Phật, Hộ Pháp, Giám Trai và ông Tiêu.
Nghi lễ long trọng nhất là “Trình thập cúng” diễn ra từ 17 giờ đến 19 giờ tại bàn thờ Bà. Ban dâng hương gồm những người mặc lễ phục áo thụng xanh, thắt đai đen, đội mũ tế và đi hài bước đi nhịp nhàng theo tiếng nhạc lễ, dâng lên 10 món lễ vật gồm: hương, đăng (đèn cầy), hoa, trà, quả, rượu, bánh ít chay, cùng ba món đồ mã tượng trưng là cặp dây chuyền, xuyến và bông tai. Sau đó là phần tụng kinh cầu nguyện của các chư tăng.
Ngày vãn hội (Ngày 6 tháng 5): Các bậc chư tăng tiếp tục thực hiện nghi thức đọc kinh Bái sám (sám hối) trước bàn thờ Phật, cử hành lễ Cúng ngọ và đại lễ Thí thực cô hồn, phát gạo muối bố thí cho người nghèo. Cửa đền tiếp tục mở rộng từ sáng đến tối muộn phục vụ bá tánh hành hương cúng viếng. Trong quá khứ, ngày mùng 7 và mùng 8 còn có tục rước đoàn hát bội từ tỉnh Bến Tre về biểu diễn văn nghệ, song nét sinh hoạt này nay đã không còn được duy trì.
Giá trị nhân văn và không gian hội hè trù phú
Lễ hội đền Linh Sơn không chỉ là nơi thỏa mãn nhu cầu tâm linh của những người sùng tín đến cầu tài, cầu lộc, cầu buôn may bán đắt, mà còn là một ngày hội văn hóa sinh động. Suốt tuyến đường dài nhiều ki-lô-mét dẫn vào khu di tích, hàng trăm cửa hàng dịch vụ mọc lên san sát với các trò vui chơi như ảo thuật, xiếc, mô tô bay. Đặc biệt, những người làm nghề dịch vụ và buôn bán nơi đất Thánh đều thuộc nằm lòng quy tắc ứng xử hòa nhã, tôn trọng khách bách thập phương để giữ gìn sự tôn nghiêm cho không gian ngày hội. Trải qua bao thăng trầm, lễ hội núi Bà Đen vẫn vẹn nguyên giá trị, là biểu tượng tôn vinh nét đẹp lao động, lòng chung thủy và tinh thần hướng thiện sâu sắc của con người Nam Bộ.
