- Đối tượng suy tôn: “Cô” có tên là Lê Thị Hồng Thủy.
- Địa điểm: Dinh Cô, thị trấn Long Hải, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Thời gian: Ngày 10 đến ngày 12 tháng Hai âm lịch (Chính lễ: ngày 12 tháng Hai).
- Đặc điểm nổi bật: Lễ hội nước đông nhất, thu hút khách thập phương trên một diện rộng gồm nhiều tỉnh, thành.
Người làm nghề đi biển hay quanh năm gắn bó với những công việc trùng tu tôn tạo lăng miếu chúng tôi, cứ hễ bước sang đầu tháng hai âm lịch là lòng dạ lại rộn ràng, hướng về chân núi Thùy Vân thuộc thị trấn Long Hải, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Cái không khí bận rộn chuẩn bị cho lễ hội Nghinh Cô — hay còn gọi là lễ rước Bà Thủy — nó có một sức hút lạ kỳ lắm. Theo tập tục lâu đời của bà con ngư dân địa phương, tụi tôi không gọi là lễ Dinh Cô (nơi thờ cúng) mà gọi là lễ Nghinh Cô (căn cứ vào nghi thức tiến hành lễ). Bởi lẽ, ngoài việc cúng bái trong dinh thờ, cái hồn cốt của ngày hội nằm ở lễ Nghinh bằng tàu thuyền vô cùng long trọng và sôi động diễn ra ngay trên mặt biển xanh.
Nếu như lễ Nghinh Ông chỉ diễn ra tại các lăng, miếu thờ cốt cá Ông (đền thờ Ông Nam Hải) ở từng vạn chài với ý nghĩa như ngày “giỗ Ông” vào ngày cá “lụy” dạt vào bờ, thì lễ hội Nghinh Cô tại Long Hải lại gắn liền với một nhân vật theo truyền thuyết dân gian là rất hiển linh. Chính vì sự linh thiêng ấy mà hội duyên hải này thu hút số lượng khách hành hương đông đảo đến hai, ba chục vạn người trên một phạm vi rộng lớn gồm nhiều tỉnh thành phía Nam. Thuyền ghe từ các nơi như Vũng Tàu, Gò Công, Bến Tre, Trà Vinh, Cà Mau, Rạch Giá… thậm chí cách hàng trăm hải lý như Phan Rí, Phan Thiết cũng đi biển về đây tụ hội. Ngày nay, bên cạnh ngư dân và người làm nghề vận tải biển, hội còn đón dòng người đông đảo từ thành thị, thợ thủ công, cán bộ, công nhân từ Thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hòa… về đây nghỉ ngơi, hóng gió biển, thưởng thức hải sản kết hợp đi lễ mùa khô, tạo nên một khung cảnh đan xen giữa nét truyền thống và hơi thở hiện đại.
Điển tích về Lê Thị Hồng Thủy và ngôi Dinh Cô uy nghi dưới chân núi Thùy Vân
Lòng tôn sùng của bà con bắt nguồn từ câu chuyện truyền tụng qua nhiều thế hệ. Những cuộc khảo sát sau này cho biết rõ “Cô” tên là Lê Thị Hồng Thủy, con của ông Lê Văn Khương và bà Thạch Thị Hà, quê gốc ở Bình Thuận. Cô theo cha vào buôn bán ở vùng Bà Rịa, Gò Công. Vào năm Gia Long thứ ba (1804), khi thuyền đi ngang qua mũi Thùy Vân, cô không may bị dây kéo buồm gạt rơi xuống biển. Dù mọi người trên thuyền ra sức tìm kiếm nhưng vô vọng; ba ngày sau, xác cô nổi lên nơi vũng Mù Ư và được bà con ngư dân xã Phước Hải phát hiện, chôn cất tử tế. Lúc ấy cô mới vừa tròn 16 tuổi. Về sau cô trở nên linh hiển, nhập vào xác đồng kể lại cái chết oan uổng của mình, thường xuyên phù hộ, chở che cho người làm nghề biển giã tránh được tai nạn hiểm nghèo giữa nơi sóng nước mênh mông. Cứ năm nào gặp may, tôm cá đầy khoang là ngư dân lại đến cúng tạ ơn Cô rất to, tổ chức hát bội ăn mừng.
Cũng có những truyền thuyết khác kể rằng Cô vốn là một người con gái Bình Thuận mến cảnh mến người nên xin cha ở lại vùng Bà Rịa, Gò Công, do không được toại nguyện nên trầm mình tự vẫn ở Mũi Nhỏ. Hay có lời kể Cô là một liên lạc viên của quân Tây Sơn qua lại trên con đường thiên lý ven biển rồi bị quân chúa Nguyễn giết chết. Dù vài tình tiết có khác nhau, nhưng tất cả đều thống nhất về một người con gái chết oan, linh hiển, có mồ mả lưu giữ đến ngày nay. Từ một ngôi miếu nhỏ bằng cây lá ban đầu bên vạn chài, nay qua nhiều lần trùng tu, nơi thờ Cô đã trở thành ngôi lăng đồ sộ như một ngôi nhà ba tầng, có bậc tam cấp lên xuống, lưng dựa vào sườn núi Thùy Vân, mặt nhìn ra biển trông rất uy nghi. Ghe thuyền khi đi ngang qua trước Dinh Cô đều giữ tập quán dừng lại ngoài khơi, thắp hương cúng vái rồi mới đi tiếp.
Bước vào bên trong dinh, gian giữa là nơi thờ tượng “Cô” với 4 cô hầu đứng hai bên bệ vệ. Bên hữu là án thờ Ngũ vị Nương Nương; bên tả là án thờ Tứ Pháp Nương Nương. Ngay trên tường bên hữu có bàn thờ ông bà thân sinh ra “Cô”, còn tường phía tả là bàn thờ Chúa Cậu. Gian bên cạnh là nơi thờ Mẹ Sanh được bài trí chu đáo.
Nghi thức cúng cẩu an và đêm hội hoa đăng náo nhiệt nơi bờ biển
Lễ hội Nghinh Cô hằng năm thường mở trong 3 ngày, bắt đầu từ ngày 10 đến ngày 12 tháng hai âm lịch, trong đó ngày chính lễ là ngày cuối cùng. Từ sáng mùng 10, các đội lân từ Sông Bé, dàn nhạc ngũ âm từ Trà Vinh và các đội hát múa kết nghĩa đã tề tựu đông đủ, khách thập phương chen chân không lọt. Ban quý tế phải tổ chức lễ cúng tiên ngay từ sáng mùng 10, lễ vật chủ yếu là hương hoa và trái cây.
Đến tối ngày 11, lễ cầu an trang nghiêm được tiến hành tại chính điện. Các vị sư từ các chùa lân cận trong vùng được mời đến tụng kinh, gõ mõ cầu cho quốc thái dân an, mọi nhà làm ăn phát đạt, gặp nhiều may mắn. Lễ tế này thường kéo dài cho đến tận nửa đêm. Trong khi đó, bên ngoài Dinh Cô, cả thị trấn Long Hải như biến thành một đêm hội hoa đăng tưng bừng. Ánh điện sáng trưng từ trên bờ kết hợp với ánh sáng hắt lên từ hàng chục ngọn đèn măng-sông của tàu thuyền đậu ở mé nước, tạo nên một không gian lộng lẫy. Hàng vạn người đủ lứa tuổi cùng vui chơi trên bãi cát trắng, tiếng trống múa lân và tiếng nhạc từ hệ thống loa truyền thanh vang rộn mãi đến khuya.
Lịch trình rước kiệu Nghinh Cô uy nghiêm lướt sóng ra khơi ngày chính lễ
Nói thì dễ nhưng phải chứng kiến tận mắt nghi thức rước kiệu vào rạng sáng ngày 12 tháng hai mới thấy hết sự uy nghi của ngày hội nước này. Lộ trình di chuyển của đoàn rước được thực hiện nhịp nhàng từ đất liền ra đến giữa biển khơi:
- Khởi hành: Xuất phát từ Dinh Cô, đoàn rước đi bộ tiến về phía mé biển Long Hải.
- Hành trình trên biển: Đoàn xuống các tàu thuyền tại mép nước → Ghe lễ dẫn đầu đoàn thuyền rẽ sóng tiến thẳng ra khơi xa → Dừng lại tạo thành vòng tròn rộng tại địa điểm quy định trên biển để làm lễ.
- Quay về: Đoàn thuyền quay bến trước Dinh Cô → Đón kiệu lên bộ, rước thẳng về chính điện Dinh Cô.
Nghi thức bắt đầu khi vị Chánh tế dẫn đầu đoàn rước tiến ra bãi biển. Đi liền sau đội học trò lễ mặc lễ phục cổ truyền, đầu đội mão, chân đi hia là chiếc kiệu sơn son thếp vàng đặt bài vị của Cô, có lọng che và quân cờ đi kèm hai bên. Kế theo sau là dàn nhạc ngũ âm và đoàn chèo bả trạo mặc áo quần sặc sỡ. Đến mép nước, toàn bộ ban tế lễ bước lên chiếc “ghe lễ” (đúng ra là tàu chiếc lễ lớn) có sức chở cả trăm người, trước mũi đặt bàn hương án sơn đỏ có lư hương và mâm trái cây. Các ghe nghề lớn nhỏ khác nối đuôi nhau xuất phát sau một tràng pháo nổ ran.
Đoàn thuyền như một con rồng lớn lướt trên mặt nước biển xanh vào buổi sáng sớm, hòa trong tiếng máy nổ, tiếng trống chiêng, thanh la, não bạt và tiếng ca nhịp nhàng của đội chèo bả trạo ca ngợi công đức của Cô cùng Ông Nam Hải. Khi đến địa điểm quy định, đoàn thuyền dừng lại tạo thành một vòng tròn rộng giữa biển khơi. Vị Chánh tế cùng đội học trò lễ tiến ra mũi thuyền làm lễ Nghinh Cô và vái mời “Ông Nam Hải” về dinh chứng giám lòng thành, cầu mong trời yên biển lặng, ghe thuyền thuận buồm xuôi gió, tôm cá đầy khoang. Lúc này, hàng chục dây pháo dài từ các thuyền thi nhau nổ vang động cả một vùng trời nước, bóng bay đủ màu sắc được tung lên không trung.
Khi đoàn thuyền quay về bến trước Dinh Cô, các đoàn múa lân tiến ra nghênh đón giữa tiếng hò reo của hàng ngàn người trên bãi biển. Khách hành hương đồng loạt thả những cánh chim “phóng sinh” như chim ri, chim sẻ, chim áo già lên bầu trời trong vắt. Kiệu được đưa thẳng về dinh để làm buổi tế lễ chính thức với vật dâng cúng gồm một con heo quay, một con heo sống làm thịt để nguyên con, bánh trái và hương hoa; đi kèm là múa Tam hiến và múa Mâm vàng (riêng tại ngôi mộ Cô theo tục lệ chỉ cúng hoa quả). Sau buổi chánh tế là lễ Xây chầu – Đại bội với đoàn hát bội diễn cả ngày lẫn đêm. Đến buổi chiều ngày 12, trên bãi biển lại rộn ràng các trò chơi dân gian như múa lân, đấu cờ, múa bông, bắt vịt trên sóng nước.
Sự giao thoa giữa truyền thống và hiện đại trong không gian hội mới
Nhìn dưới góc độ của người làm nghề, không gian lễ hội Nghinh Cô giờ đây đã có nhiều thay đổi theo xu thế đô thị hóa. Bên cạnh chiếc kiệu sơn son thếp vàng, bục hương án cổ kính là những chiếc ô dù rực rỡ hiện đại; chen lẫn giữa áo thụng xanh, hia mão, khăn đóng truyền thống là những chiếc áo “pull”, quần “jean” của du khách hiếu kỳ. Thay cho ánh đuốc bập bùng ngày xưa là ánh điện đủ màu, đèn măng-sông và pháo hoa rực rỡ. Dù có những nét tân kỳ đan xen, điều đáng quý là Ban quản trị Dinh Cô đã phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương sử dụng số tiền quỹ “Cúng dường” rất hợp lý. Toàn bộ số tiền sau khi trích trùng tu nơi thờ cúng đều được dùng để xây dựng nhà tình nghĩa cho gia đình liệt sĩ, thương binh, xây trường học, trao giải khuyến học cho trẻ em nghèo và làm công tác từ thiện như trợ cấp bão lụt, giúp đỡ gia đình tai nạn hay cấp quan tài cho người nghèo. Những việc làm nghĩa tình ấy càng làm tăng thêm sự cố kết cộng đồng và nét đẹp nhân văn của vùng đất biển Long Hải.
