- Đối tượng suy tôn: Mẫu Liễu Hạnh.
- Địa điểm: Xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
- Thời gian: Từ mồng 1 đến mồng 10 tháng Ba âm lịch (Chính hội: mồng 3 tháng Ba).
- Đặc điểm nổi bật: Trò kéo chữ.
Người xưa có câu: “Tháng tám giỗ Cha, tháng ba giỗ Mẹ”. Nếu như mùa thu tháng tám, dòng người xuôi ngược trẩy hội đền Kiếp Bạc để bái vọng Đức Thánh Trần bên dòng Lục Đầu Giang sóng cuộn, thì khi xuân muộn tháng ba gõ cửa, ta lại bồi hồi tìm về với xứ Sơn Nam hạ. Giữa biển lúa non xanh mướt mát của vùng đồng bằng chiêm trũng Vụ Bản, Phủ Giầy hiển hiện như một khoảng lặng linh thiêng, nơi sinh khí của đất và lòng người hòa vào làm một.
Cái hay của vùng đất Kim Thái này là sự quần tụ của tâm thức. Đi quanh mảnh đất Kẻ Giầy xưa, bước chân ta cứ chạm vào đền, chùa, miếu, phủ. Từ đền Giếng, chùa Gôi, đền Khâm Sai cho đến đền Thượng, đền Quan… tất cả như những nét chấm phá cổ kính che chở cho mạch sống của làng quê bao đời nay. Người trong nghề chúng tôi vẫn bảo nhau, đến đây không phải để xem một bức tranh trưng bày trong tủ kính, mà là để thấy một lát cắt văn hóa đang sống, đang thở ngay trong từng nhịp chân hành hương.
Dấu tích lịch sử từ Kẻ Giầy cổ đến chốn linh từ
Nói về danh xưng, vùng đất này xưa kia vốn mang cái tên mộc mạc là Kẻ Giầy. Mãi về sau, khi lòng tôn kính của nhân dân dành cho Mẫu Liễu Hạnh thấu đến cửu trùng, triều đình sắc phong bà là “Mẫu Nghi thiên hạ”, “Chế Thắng Hòa diệu Đại vương” và bậc “Thượng đẳng tối linh thần”, nơi này mới được tôn kính gọi thành Phủ Giầy.
Ngồi bên tách trà thơm với các bậc bô lão trong làng, nghe kể về điển tích Thánh Mẫu mới thấy bảng lảng màu sắc dân gian huyền thoại. Chuyện rằng Mẫu vốn là công chúa Quỳnh Hoa nơi thiên giới, con gái của Ngọc Hoàng. Vì lỡ tay làm vỡ chén ngọc mà bị giáng xuống trần gian vào năm 1557. Bà đầu thai vào nhà Lê Thái Công – một bậc nho gia tích đức ở đất Vụ Bản.
Mang danh Giáng Tiên, nàng lớn lên tài hoa lỗi lạc, giỏi cả đàn ca lẫn thơ phú. Lịch sử còn lưu lại những giai thoại nàng cùng chồng là Đào Lan và các bậc danh nho đương thời như Phùng Khắc Khoan xướng họa văn chương. Đến khi nương náu cửa thiền, nàng lại hiển linh âm phù triều đình dẹp giặc giã, giúp dân lành trừ tai ương dịch bệnh. Đi đến đâu Mẫu cũng gieo duyên lành, làm việc thiện, nên người đời kính cẩn tôn là Thánh Mẫu Liễu Hạnh và xếp bà vào hàng Tứ bất tử của tâm thức Việt, sánh vai cùng Thánh Tản Viên, Thánh Gióng và Tiên Chữ Đồng Tử.
Dù có dấu chân ghé qua Phủ Tây Hồ (Hà Nội) để đàm đạo thơ phú, nhưng gốc rễ sâu thẳm nhất của Mẫu vẫn gắn chặt với mảnh đất nơi bà sinh ra – quần thể di tích Phủ Giầy ngày nay.
Không gian kiến trúc thấm đượm tri thức bản địa
Bước chân vào quần thể Phủ Giầy, người ta dễ dàng bị thuyết phục bởi bộ ba kiến trúc linh thiêng: Phủ Tiên Hương (phủ Chính), Phủ Vân Cát và Lăng Chúa Liễu.
Phủ Tiên Hương (Phủ Chính)
Cái cảm giác đứng trước tòa phủ Chính luôn mang lại sự choáng ngợp bởi nét bề thế nhưng rất đỗi hài hòa. Trước phù là giếng tròn in bóng cột cờ, qua khoảng sân rộng là hệ thống nghi môn trụ đắp nổi hình chim phượng, con lân cực kỳ tinh xảo. Nhìn ngắm hồ bán nguyệt có lan can đá thấp bao quanh, hai chiếc cầu đá nhỏ bắc ngang, ta mới thấy cái tài sắp đặt phong thủy của cha ông.
Bên trong điện thờ chính là nơi ngự của hệ thống Mẫu Tứ Phủ: Mẫu Thượng Thiên cai quản bầu trời ở chính giữa, Mẫu Địa coi sóc đất đai bên phải, Mẫu Thoải ngự trị vùng sông nước bên trái và phía trước là Mẫu Thượng Ngàn cai quản núi rừng.
Phủ Vân Cát
Cách phủ Chính không xa, Phủ Vân Cát lại mang một dáng vẻ thanh thoát khác biệt. Ngũ môn uy nghi soi bóng xuống hồ bán nguyệt tĩnh lặng. Nơi này lấy điện thờ Chúa Liễu làm trung tâm, khoảng không gian bên tả là chùa thờ Phật, bên hữu lại là đền thờ Lý Nam Đế. Sự dung hợp Nho – Phật – Đạo và tín ngưỡng bản địa hiển hiện rõ ràng ngay trên thớ đất này.
Lăng Chúa Liễu
Nằm nép mình bên cạnh phủ Chính là một không gian biệt lập hình chữ nhật xây hoàn toàn bằng đá. Từng nhát đục, nét chạm trên đá ở đây lỳ mặt theo thời gian nhưng vẫn giữ nguyên độ sắc nét. Giữa lăng là ngôi mộ hình bát giác, mỗi cạnh chừng một mét, tịch mịch và trang nghiêm.
Nghi lễ và những ngày hội “Mở cửa phủ”
Hội Phủ Giầy kéo dài suốt 10 ngày đêm, từ mồng 1 đến mồng 10 tháng ba âm lịch. Mỗi ngày hội lại ứng với một nghi thức văn hóa đặc trưng, nghiêm cẩn và thành kính:
- Mồng 1 – Lễ nhập hội: Con cháu dòng họ Trần Lê (họ của Mẫu) sửa sang lễ vật vào tế tại phủ Chính, sau đó bái vọng nhà thờ họ ở phủ Nội, phủ Ngoại. Phủ Vân Cát cũng đồng thời khai hội trong ngày này.
- Mồng 2 – Lễ mộc dục: Khi màn đêm buông xuống, làng tổ chức rước nước dưới ánh đuốc bập bùng. Nước mát được lấy vào chĩnh sứ mang về để bao sái, tắm tượng Thánh Mẫu.
- Mồng 3 – Chính hội: Ngày giỗ Mẫu Liễu Hạnh, nghi thức xưa kia được cử hành trang trọng như quốc lễ. Lễ vật tiến Mẫu ở phủ Tiên Hương gồm hương hoa, lợn sống và đặc biệt phải có 100 chiếc bánh giầy to. Bên phủ Vân Cát, người dân cũng dâng đại lễ Tam sinh (trâu thui, bò thui, lợn luộc) cùng hàng trăm cặp bánh giầy để tỏ lòng tôn kính.
- Mồng 4 và mồng 5: Các bậc chức sắc trong làng lần lượt cử hành nghi thức tế lễ theo thứ tự.
- Mồng 6 – Đại lễ rước kiệu: Đây là đám rước lớn nhất, kéo dài gần một cây số từ phủ Tiên Hương đến chùa Gôi. Trong đoàn rước, người ta thấy sự hòa hợp lạ kỳ: từ các vị Hòa thượng nhà Phật, các thanh đồng đạo Tứ Phủ, quan chức cho đến những người làm nghề phương thuật và con nhang đệ tử. Đi kèm là tiếng trống lân, điệu múa rồng rộn rã cả một vùng quê.
Trò kéo chữ và dư vị chợ hội vùng chiêm trũng
Nói thì dễ chứ khi chứng kiến tận mắt trò kéo chữ từ mồng 7 đến mồng 9, ta mới thấy hết cái dụng công của người làm hội. Đây được coi là đặc sản tinh thần độc đáo nhất của hội Phủ Giầy.
Hàng trăm phu cờ là những thanh niên trai tráng, đầu chít khăn đỏ, áo vàng thắt lưng xanh, quần trắng xà cạp đỏ, tay lăm lăm cây gậy cao 2 mét. Dưới sự điều khiển nhịp nhàng của tổng cờ, sau khi chủ lễ xin Mẫu “ra chữ”, các phu cờ sẽ đan xen, chạy đội hình để xếp thành những chữ mang ý nghĩa cao đẹp như “Thiên hạ thái bình”. Nhìn từ trên cao, những khối người di chuyển như một dòng chảy văn hóa uyển chuyển, đều tăm tắp.
Bên cạnh phần lễ, Phủ Giầy những ngày này không khác gì một phiên chợ lớn. Người dân quanh vùng mang đủ thứ đồ thủ công mỹ nghệ ra phô diễn nghề. Từ những chiếc giường, tủ, bàn ghế chạm trổ hoa văn cổ sần sùi cho đến đồ khảm xà cừ, hoành phi, liễn đối… Tất cả đều sực nức mùi gỗ mới, mùi sơn ta đặc trưng.
Và có một điều, đi hội Phủ Giầy giữa tiết trời tháng ba se lạnh mà chưa sà vào hàng quán thưởng thức món thịt bò thui chấm tương gừng thì coi như chưa bén duyên với đất này. Vị ngọt của thịt, vị cay nồng của gừng hòa quyện, như làm ấm lại lòng người lữ thứ.
Hội tan rồi mà câu ca dao của người xưa cứ vương vấn mãi trên môi:
“Còn trời, còn nước, còn non,
Mồng năm rước Mẫu ta còn đi xem.
Ai về nhắn chị cùng em,
Bảo nhau dắt díu đi xem hội này.”
Đó không đơn thuần là một lời mời gọi, mà là lời hẹn ước từ tâm thức, nhắc nhở mỗi người con Việt tìm về với nguồn cội, với lòng Mẹ bao dung.
