Lễ Hội Bình Đà Hà Nội: Điểm Hẹn Tâm Linh “Tháng Ba Giỗ Tổ”

  1. Đối tượng suy tôn: Quốc tổ Lạc Long Quân và Linh Lang Đại Vương.
  2. Địa điểm: Làng Bình Đà, xã Bình Minh, huyện Thanh Oai, Hà Nội (trước đây thuộc tỉnh Hà Tây cũ).
  3. Thời gian: Từ ngày 2 đến ngày 6 tháng Ba âm lịch (Chính hội: ngày 6 tháng Ba).
  4. Đặc điểm nổi bật:
    • Có nghi lễ rước và thả bánh vía độc đáo xuống giếng ngọc.
    • Các hoạt động hội đặc sắc như thi đốt pháo hoa, pháo cây (ngày xưa) và các trò chơi dân gian.

Nếu có dịp ngược xuôi những dòng sông cổ vùng đất kinh kỳ, ghé qua mảnh đất Thanh Oai chiêm trũng, người ta dễ lòng say đắm cái không khí bảng lảng thức nhận của làng cổ Bình Đà. Xưa kia, nơi này mang cái tên nôm mộc mạc là làng Bùi, thời Tiền Lê đổi thành Bảo Cự, rồi Bảo Đà vào năm 1808, trước khi chính thức định danh Bình Đà vào năm 1820.

Nằm cách trung tâm thủ đô chừng 24 km, ngay ngã ba đường 71 và đường 22, nơi hai dòng sông Đáy và sông Đỗ Động gặp nhau, Bình Đà từ thuở lập làng đã được xem như dải vành đai phía Tây kiên cố bảo vệ kinh thành. Người trong nghề chúng tôi khi đi điền dã về đây thường rỉ tai nhau rằng, cái mạch đất này linh thiêng lắm. Nó không phải thứ văn hóa nằm yên trong tủ kính, mà là một thực thể đang thở, đang sống động qua từng mùa hội cúng tế.

Dấu tích ngàn năm ở chốn hai ngôi đình cổ

Cái hồn cốt của làng cổ Bình Đà quần tụ xung quanh hai ngôi đình cổ kính: đình Nội (đình Trong) và đình Ngoại (đình Ngoài). Mỗi ngôi đình là một lát cắt lịch sử, đan cài giữa huyền thoại thuở hồng hoang và chiến công hiển hách của cha ông.

Đình Nội – Nơi phụng thờ Quốc tổ Lạc Long Quân

Ngôi đình Trong này là di tích lịch sử linh thiêng, nơi nhân dân ngàn năm qua phụng thờ Đức Lạc Long Quân – vị Quốc tổ đã khai sinh ra nòi giống Rồng Tiên của đất nước này. Trong hậu cung thâm nghiêm, làng còn giữ được những báu vật vô giá: từ thần phả, sắc phong, chiêng đồng cho đến hệ thống đồ thờ, bia ký lỳ mặt theo thời gian.

Ngước mắt nhìn bức hoành phi cổ kính khắc bốn chữ “Bách Việt Tổ” cùng đôi câu đối nhuốm màu năm tháng, lòng người không khỏi bồi hồi:

“Đức hóa công phàm quan Đỗ Chỉ
Linh thành hách trạc tự Phong Châu.”

(Mở đức sáng ngời soi bến Đỗ, Tiếng thiêng hiển hách tự Phong Châu)

Nhưng cái làm nên cái hồn mỹ thuật độc đáo nơi đây chính là bức giá tượng phù điêu bằng gỗ sơn son thếp vàng, tương truyền đã tồn tại ròng rã hơn 900 năm. Với chiều dài 2,8 mét, rộng 2,2 mét được bố cục tinh xảo thành năm tầng cảnh trí, bức phù điêu tái hiện sinh động cảnh Đức Quốc tổ cùng các bậc văn võ bá quan đang thưởng ngoạn hội đua thuyền – một nét sinh hoạt sông nước đặc trưng của người Việt cổ.

Đình Ngoại – Nơi ghi dấu vương tử triều Lý

Nằm ngay bìa làng giáp đoạn đường 22 là đình Ngoại, nơi phụng thờ Lý Lang Công (con trai vua Lý Thái Tông, húy Hoằng Chân, duệ hiệu Linh Lang Hùng Uyên). Người trong vùng tôn kính thờ ông làm Thành hoàng làng bởi công lao hiển hách đánh Tống, bình Chiêm, trước khi hy sinh oanh liệt trên dòng sông Như Nguyệt. Không những thế, lúc sinh thời ông còn giúp dân trị thủy, chống hạn cứu đói. Cái ơn ấy, người Bình Đà ghi lòng tạc dạ vào thớ đất, thớ gỗ quê hương.

Nói về mùa hội, người dân sửa soạn ăn hội từ ngày 26 tháng 2 âm lịch (ngày Đức Lý Lang Công hy sinh) kéo dài cho đến mùng 7 tháng 3. Nhưng cái đỉnh điểm, ngày chính hội chính là mùng 6 tháng 3 – ngày sinh của Đức Quốc tổ Lạc Long Quân.

Nghi lễ khởi rục và những ngày sửa sang cửa phủ

Người làm hội Bình Đà kỹ tính lắm, từ cuối tháng hai đã thấy không khí rậm rịch khắp các đường thôn ngõ xóm:

  • Ngày 24 tháng 2: Làng làm lễ Sám quán, lau chùi toàn bộ đồ thờ tự và dọn dẹp ao sen phong thủy trước đình Nội. Đây cũng là lúc các xóm rộn ràng thi xôi, thi chè để chọn ra lễ vật tinh túy nhất dâng cúng thánh thần.
  • Ngày 25 tháng 2: 12 ông trùm được chọn lựa kỹ càng để trông nom hai ngôi đình. Buổi sáng, làng làm lễ trình bò sống. Con bò đực được chọn phải có bộ lông vàng mượt, béo tốt, không một vết đốm. Sau khi tắm rửa sạch sẽ, bò phải nhịn ăn uống để chuẩn bị cho lễ khao quân, gợi nhắc nhở về những nhọc nhằn xưa kia của nghĩa quân Linh Lang trước giờ xuất trận.
  • Ngày 26 tháng 2: Tiệc mặn khao quân chính thức diễn ra ở đình Ngoại với vật cúng là bò thui nguyên con đặt trên mâm xà lớn, đầu quay vào hương án. Trái lại, bên đình Nội thờ Đức Quốc tổ lại hoàn toàn là cỗ chay thanh đạm gồm hương, hoa, oản, trầu, rượu… Bởi trong tâm thức người làm nghề chúng tôi, Quốc tổ là bậc bất tử, không vướng bụi trần.

Sau những ngày tịnh hội, đến ngày mùng 1 tháng 3, làng tổ chức lễ cầu phúc và rước mã thờ. Tiếng chiêng, tiếng quạt, phường bát âm hòa tấu vang vọng dọc đường làng, theo sau là điệu múa rồng, múa lân uyển chuyển làm rộn ràng cả một vùng chiêm trũng.

Đêm hội giao hòa và tiếng pháo bông huyền thoại

Nói thì dễ chứ khi đặt chân đến sân đình vào ngày mùng 5 tháng 3, tận mắt chứng kiến lễ “mộc dục” và cuộc rước giao hòa lúc hoàng hôn mới thấy hết cái chữ “tình” của lễ hội. Ba chiếc kiệu rước sắc từ đình Nội ra đình Ngoại rồi quay trở về, mang theo sắc chỉ “Phụng thiên chi mệnh” của cha truyền cho con đi đánh giặc.

Khi màn đêm buông xuống, khoảng giờ Tuất, cả không gian Bình Đà bùng nổ trong ánh sáng của các loại pháo truyền thống. Người Bình Đà có tiếng về nghề làm pháo cổ truyền. Đêm mùng 5 là đêm của pháo bông, hay còn gọi là “cây bông”.

Đó là một thân tre già cao đến 15 mét, chia thành nhiều tầng pháo, cây lớn nhất có đến 15 tầng. Cái tài của người thợ là chỉ châm ngòi một lần duy nhất, lửa cứ thế truyền liên tục từ tầng thấp lên tầng cao, mỗi tầng lại diễn ra một tích trò dân gian độc đáo. Khi tầng cao nhất phát nổ, những tia pháo thăng thiên lóe lên đủ 7 sắc màu mà người đời gọi là pháo “thất tinh”. Trong triết lý phương Đông, đó là sự hòa hợp trọn vẹn giữa Trời – Đất – Con người, hàm ý cho một năm vạn sự hanh thông, đủ đầy.

Chính hội mùng 6 và bí mật nghi thức rước “bánh vía”

Dù đêm mùng 5 hội tan muộn, có khi đến tận 2 giờ sáng, nhưng tờ mờ sáng mùng 6 tháng ba – ngày chính hội, cửa đình đã rộng mở. Tiếng đàn nhị, tiếng trống báo hiệu một chương linh thiêng nhất bắt đầu: Nghi thức rước “bánh vía”.

Bánh vía gồm có 3 chiếc. Nói là vậy chứ tuyệt nhiên từ xưa đến nay chưa một người phàm nào được nhìn thấy hình dáng chiếc bánh. Bánh được đặt kín trong đài, đặt trang trọng trên kiệu có lọng che khuất. Giữa giờ Ngọ, trong tiếng trống chiêng âm vang và ánh đuốc bập bùng của điển khoa viên dẫn đường, chủ tế đình Nội cùng trùm cai hội cung kính rước kiệu bánh xuống sát mép nước chiếc giếng trước đình, nơi đã được quây sẵn bằng khung cót che kín mịt.

Sau khi đọc xong đoạn mật chú truyền đời, vị chủ tế lặng lẽ mở đài, bóp nát từng chiếc bánh rồi thả xuống lòng nước thẳm. Người xưa quan niệm, bột bánh phải chìm sâu xuống đáy giếng thì năm đó làng mới được mùa, gặp nhiều điềm tốt lành. Ba người hành lễ xong liền lẳng lặng bước lên trong sự tôn nghiêm, không ai nói với ai một lời.

Đến giờ Mùi, hội thi pháo cây (pháo thờ) của các giáp trong làng lại tiếp diễn sôi nổi. Cây pháo cao 12 mét với hệ thống dây chuyền lửa phức tạp. Con pháo “chuột” chạy dọc dây xẹt lửa kích nổ các tầng pháo, đẩy các quả đạn nổ giòn giã lên không trung. Đỉnh cao của pháo cây là giàn 16 quả pháo ở tầng trên cùng phải đồng loạt bắt lửa để nổ vang duy nhất một tiếng lớn, gọi là pháo “nhất thanh”. Tiếng nổ có đanh, có tròn thì điềm báo năm đó làng mới thịnh vượng.

Dư vị lắng đọng sau mùa hội làng nghề

Ngày mùng 7 tháng 3, tiếng chiêng trống từ hai ngôi đình vang lên làm lễ tạ khóa, người dân cùng nhau “phá cỗ chay”, khép lại một mùa hội bận rộn. Bước chân ra về, trong lòng mỗi người dân Bình Đà đều mang theo một niềm tin sắt đá vào lời ngọc phả xưa truyền lại: “Cầu cho con người bình yên, mạnh khỏe, lúa tốt, của nhiều muôn đời sung sướng”.

Nhìn sâu vào tiến trình của hội Bình Đà, cái nền cốt xa xôi của lễ hội này vẫn hàm chứa đậm nét tín ngưỡng nông nghiệp của cư dân trồng lúa nước qua tục thờ nước và cầu ánh sáng. Đó không chỉ là nơi lịch sử được tái hiện, mà còn là sân khấu để những người thợ tài hoa của làng nghề bộc lộ cái tâm, cái tầm và quan niệm thẩm mỹ tinh tế được truyền đời qua bao thế hệ.