- Đối tượng suy tôn: Đức Phật Thích Ca và Thiền sư Từ Đạo Hạnh.
- Địa điểm: Xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội (trước đây thuộc tỉnh Hà Tây cũ).
- Thời gian: Từ mồng 5 đến mồng 7 tháng Ba âm lịch (Chính hội: mồng 7 tháng Ba).
- Đặc điểm nổi bật:
- Là một danh lam thắng cảnh tự nhiên và nhân tạo tuyệt đẹp gồm những hang động, đồi núi và những ngôi chùa cổ kính.
- Có nghệ thuật múa rối nước truyền thống đặc sắc (gắn liền với tên tuổi của Thiền sư Từ Đạo Hạnh).
Người dân xứ Đoài bao đời nay vẫn truyền tai nhau câu ca quen thuộc như một lời hẹn ước khi đóa hoa gạo cuối xuân thắp lửa:
“Nhớ ngày mồng Bảy tháng Ba
Trở vào hội Láng, trở ra hội Thầy.”
Cái duyên của mảnh đất Sài Sơn (Quốc Oai, Hà Nội) nằm ở sự giao hòa trọn vẹn giữa bàn tay tạo hóa và công đức con người. Cũng giống như chùa Hương với vùng Hương Sơn bảng lảng khói sương, chùa Thầy từ lâu đã là một khoảng lặng di sản giữa vùng đất bán sơn địa nhấp nhô núi Voi, núi Phượng, núi Đổng Tự, núi Tiên Lữ… Tất cả như những nếp chầu tự nhiên hướng về ngọn núi Thầy cổ kính. Người trong nghề chúng tôi đi điền dã muôn phương, nhưng mỗi lần chạm chân vào dốc đá Sài Sơn, nghe mùi đá ẩm mục xen lẫn hương trầm, mới thực thấu cái gọi là sinh khí của một vùng đất văn hiến và trữ tình.
Mảnh đất địa linh nhân kiệt và những dấu chân lịch sử
Sài Sơn không chỉ có cảnh trí “xinh xinh” như lời thơ cổ, mà nơi đây còn là chứng nhân cho những thăng trầm lịch sử. Mảnh đất này vẫn vẹn nguyên truyền thuyết về tướng Lữ Gia chống quân xâm lược nhà Hán từ thế kỷ thứ II trước Công nguyên.
Nhiều thế kỷ sau, đây là nơi phát tích của dòng họ thi thư Phan Huy danh tiếng lẫy lừng vào thế kỷ XVIII – XIX. Từ bậc danh thần Phan Huy Ích thời Tây Sơn cho đến người con trai Phan Huy Chú – tác giả của bộ sách lịch sử kinh điển “Lịch triều hiến chương loại chí”. Trẩy hội chùa Thầy vì thế không thuần túy là một chuyến hành hương bái Phật, mà là cuộc hạnh ngộ với những linh hồn đại danh nhân còn hiển hiện đâu đó sau mỗi gốc thông, thớ đá.
Hành trình luồn hang, leo núi thấm đượm tri thức bản địa
Khởi đầu chặng đường hội, bước chân người lữ thứ sẽ l lần theo lối dốc cheo leo lưng chừng núi để lên chùa Cao. Trước chùa là ngôi Tam Bảo và nhà Tổ nằm nép mình tịch mịch, đối diện là gác chuông ba gian thoáng gió bốn phương. Nơi đây hiện còn lưu giữ bút tích của các bậc danh nho như Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, chí sĩ Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Trực…
Phía sau chùa là hang Thánh Hóa, một không gian thâm nghiêm tương truyền là nơi Thiền sư Từ Đạo Hạnh – vị pháp sư huyền thoại đời Lý – trút bỏ xác trần để thác sinh kiếp khác. Đi qua lối rẽ quanh co dẫn đến chùa Đinh Sơn và am Hiển Thụy, ta sẽ thấy những vết lõm trên nền đá lạnh. Các cụ già trong làng bảo đó là vết trán, vết chân của Thầy lúc ngã xuống hóa thân.
Từ sân chùa nhìn xuống làng Thụy Khuê, chùa Một Mái và hang Bụt Mọc hiện ra thấp thoáng. Cái tên Bụt Mọc bắt nguồn từ những hòn nhũ đá tự nhiên trồi lên trông tựa dáng tượng Phật. Cái hay của chi tiết này chính là tàn dư của tục sùng bái tự nhiên, thờ đá cổ xưa của người Việt mà chúng tôi hay tìm kiếm trong các tầng nấc văn hóa gian dân.
Cạnh đó là động Gió Lùa với hai vách núi chụm đầu, tạo thành một lòng hang trống hai đầu rượi mát quanh năm. Và làm sao quên được hang Cắc Cớ – địa danh đi vào thơ vịnh của nữ sĩ Hồ Xuân Hương và những câu hát giao duyên đượm vị đời:
“Hội chùa Thầy có hang Cắc Cớ,
Trai chưa vợ nhớ hội chùa Thầy.”
Đường vào hang hẹp, tối và trơn trượt, khách lên xuống cứ phải bấu víu, vịn vào nhau không phân biệt già trẻ, nam nữ. Cái sự “Cắc Cớ” mộc mạc ấy thực chất là dấu vết của tục chơi núi, luồn hang mùa xuân của cư dân nông nghiệp cổ, giống như người Thái ở Nghệ An hay người Mường ở Hòa Bình xưa kia. Khi ánh sáng rọi qua những khoảng lộ thiên, chiếu vào nhũ đá lung linh, hang đá biến thành một động Thần Quang huyền ảo.
Nối bước ngược hướng hang, leo thẳng lên đỉnh Sài Sơn, ta sẽ chạm vào một khoảng đất rộng lởm chởm đá tai mèo. Đó là chợ Trời, nơi huyền thoại kể rằng các bậc tiên nhân thường giáng trần đánh cờ, nhắm rượu thưởng xuân khi thời tiết quang đãng. Từ đỉnh cao nhất này, phóng tầm mắt ra bốn phương tám hướng, mới cảm nhận hết sự khoáng đạt của bầu trời chiêm trũng xứ Đoài.
Kiến trúc chữ Tam và bí ẩn pho tượng “rối máy” ba kiếp
Hội bắt đầu rậm rịch từ mùng 5 tháng ba, nhưng đông đúc, tấp nập nhất vẫn là ngày mùng 7 chính hội. Ngôi chùa trung tâm nằm dưới chân núi Sài Sơn được khởi dựng từ thế kỷ XII, trải qua bao lớp bụi thời gian và những lần trùng tu nhưng vẫn giữ nguyên vẻ bề thế, cổ kính.
Chùa thờ Đức Phật Thích Ca và Thiền sư Từ Đạo Hạnh – một nhà trí thức Phật học mang hành trạng huyền bí dung hợp cả Đạo giáo và Khổng giáo. Ngôi đại tự được xây theo kiểu chữ Tam (𠂤) với ba tòa: chùa Hạ, chùa Trung và chùa Thượng. Tòa chùa Thượng nằm cao nhất nhưng trần lại thấp, tạo nên một không gian u tịch, nghiêm cẩn lạ kỳ.
Điều làm nên sự đặc biệt ở điện thờ này là không bài trí hệ thống tượng Phật thông thường, mà tôn trí ba pho tượng thể hiện ba kiếp sống chuyển tiếp của Thiền sư:
- Gian giữa: Pho tượng kiếp tu hành của Thầy với vóc dáng của một vị chân tu đường bệ.
- Gian bên trái: Pho tượng kiếp sau của Ngài dưới hình tướng đế vương uy quyền – biểu tượng của vua Lý Thần Tông.
- Gian bên phải: Pho tượng chân thân đương thời của Thầy, được tạc bằng gỗ bạch đàn.
Nói thì dễ chứ tận mắt tìm hiểu cấu trúc pho tượng gỗ bạch đàn này mới thấy cái tài hoa của tiền nhân. Tứ chi và các bộ phận của tượng được chế tác rời rồi lắp ghép lại bằng hệ thống khớp nối, giúp tượng có thể ngồi lên, nằm xuống hoặc cử động tay chân cử chỉ như người thật. Đây chính là đỉnh cao của kỹ thuật làm con rối máy (rối que, rối dây) vốn là nghề rường cột của vùng này.
Tượng ngự trong khám lớn sơn son thếp vàng, buông màn che kín chỉnh chu. Hằng năm, chỉ đến ngày lễ mộc dục (tắm tượng) trước ngày mở hội, cụ từ và người có trách nhiệm mới được vào bao sái phục dịch. Phía trên gian giữa trang trọng bức hoành phi cổ bốn chữ: “Hương Hải Lưu Hương” như một lời khẳng định về tiếng thơm đức độ còn mãi với thời gian.
Nghệ thuật múa rối nước độc đáo chốn Thủy đình
Về với hội Thầy mà chưa ngồi bên bờ Ao Rồng, ngắm nhìn chiếc cầu cong ngói âm dương Nhật Tiên, Nguyệt Tiên và thưởng thức một tích trò múa rối nước trước tòa Thủy đình thì coi như chưa đến xứ Đoài.
Cái hay của rối nước vùng này là những con rối bằng gỗ sung được đục đẽo mộc mạc, sơn phết rực rỡ, vận hành hoàn toàn dưới nước qua hệ thống sào, cọc, dây ngầm dưới bàn tay điều khiển của những nghệ nhân đang ngâm mình sau tấm mành tre.
Các tích trò không cầu kỳ hoa mỹ, nó đi thẳng từ đời sống thực tế của người nông dân trồng lúa nước: từ truyện cổ tích Thạch Sanh, Tấm Cám cho đến những lát cắt dung dị như cảnh đi cày, chăn vịt, đấu vật, trẻ mục đồng thổi sáo… Theo lệ xưa, bốn phường rối nổi tiếng quanh vùng gồm Thạch Xá, Yên Thôn, Phú Đa (Thạch Thất) và Đông Bình (Chương Mỹ) sẽ luân phiên nhau về hầu Thánh và phục vụ bà con thập phương.
Hội tan khi hoàng hôn buông xuống sau đỉnh Sài Sơn, khách trẩy hội ra về mà lòng còn vương vấn tiếng trống chèo, tiếng pháo nổ trên mặt nước Ao Rồng. Hội chùa Thầy không chỉ là nơi thỏa mãn nhu cầu tâm linh của các Phật tử, mà nó như một lời nhắc nhở nhẹ nhàng về một vùng quê giàu lòng hiếu khách, nơi những giá trị truyền thống vẫn đang âm thầm sống và thở trong dòng chảy thời gian.
