Huyền tích thần Long Đỗ và đền Bạch Mã linh thiêng.Trong dòng chảy lịch sử Thăng Long – Hà Nội, hình tượng thần Long Đỗ (vị thần chủ tể cai quản đất Long Thành) luôn gắn liền với những câu chuyện hiển linh kỳ bí. Danh hiệu Quảng Lợi Thánh Hựu Uy Tế Phù Ứng Đại Vương là sự tôn vinh cao quý nhất mà các vương triều phong kiến dành cho vị thành hoàng bảo hộ mảnh đất ngàn năm văn hiến này.
Cuộc chạm trán kỳ bí giữa Cao Biền và Long Độ Vương
Thuở xưa, khi quan đô hộ nhà Đường là Cao Biền sang nước ta để đắp thành Đại La. Vào một buổi trưa tĩnh lặng, khi đang đi dạo vơ vẩn phía ngoài cửa Đông của thành, Cao Biền bỗng thấy một hiện tượng kỳ lạ xảy ra. Khói mây mù mịt bỗng nhiên nổi lên dữ dội từ mặt đất, kéo theo vầng hào quang năm sắc rực rỡ bốc thẳng lên không trung rồi tụ lại một chỗ. Dưới làn mây ngũ sắc đó, luồng khí lạnh lẽo bao trùm khắp không gian.
Khi dõi mắt nhìn sâu vào làn mây, Cao Biền kinh ngạc thấy một vị thần cưỡi rồng vàng lướt đi, đầu đội mũ hoa, thân khoác áo tía, xiêm y thêu thùa tinh xảo, chân mang giày đỏ. Cùng lúc đó, một mùi hương thơm ngào ngạt lan tỏa khắp nơi, tiếng nhạc trời vang lừng réo rắt suốt một hồi lâu mới dần dần tiêu tán. Chứng kiến cảnh tượng phi thường ấy, Cao Biền trong lòng hoảng sợ khôn nguôi, nghi ngờ đó là tà ma ngoại đạo hay yêu quái quấy nhiễu.
Đến đêm hôm đó, lúc đang say giấc nồng, Cao Biền nằm mộng thấy một người đàn ông xuất hiện, hình dung và trang phục y hệt vị thần mình đã gặp ban ngày. Vị thần bước đến gần và ôn tồn bảo rằng: “Ta chính là Long Độ Vương khí quán. Thấy ngươi đang mở mang và xây dựng đô thành ở đây nên ta đặc biệt ghé thăm chơi, ngươi chớ có sinh lòng nghi ngại!”
Khi bừng tỉnh giấc, Cao Biền liền đem sự việc mộng mị này kể lại cho các thuộc cấp nghe. Vị quan đô hộ không khỏi lo lắng than thở: “Bản thân ta chưa thấu hiểu hết việc trị quốc, nay lại để quỷ thần hiển hiện trêu chọc, không biết đây là điềm lành hay điềm dở cho mai sau?”
Nghe vậy, một người dưới quyền đã hiến kế khuyên Cao Biền nên lập đền thờ phụng, đúc tượng thần và dùng nhiều đồng sắt chôn sâu xuống lòng đất xung quanh để làm phép trấn yểm pháp lực của ngài. Cao Biền nghe theo và lập tức cho thực hiện kế hoạch.
Thế nhưng, ngay khi vừa chôn vật trấn yểm xong, một cơn cuồng phong bão táp dữ dội bất ngờ ập đến, làm đổ rạp cây cối, đất đá bị xới tung lên. Toàn bộ số đồng sắt dùng để yểm trước đó đều bị đánh tan nát thành tro bụi trong chớp mắt. Chứng kiến thần lực hiển hách ấy, Cao Biền chỉ biết thở dài bất lực nói: “Phen này ta ắt phải quay về phương Bắc mà thôi!”. Quả nhiên không lâu sau đó, Cao Biền đã phải rời bỏ nước ta để trở về Trung Quốc.
Uy danh hiển hách dưới triều nhà Lý
Bước sang triều đại nhà Lý, khi vua Lý Thái Tông quyết định dời đô về Thăng Long và cho phép mở mang phố chợ sầm uất tại khu vực cửa Đông. Nhà cửa, hàng quán mọc lên chen chúc, san sát ngay sát cạnh ngôi đền cổ khiến không gian thờ tự trở nên vô cùng ồn ào và náo nhiệt. Ban đầu, triều đình có ý định di dời ngôi đền sang một vị trí yên tĩnh khác.
Tuy nhiên, sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, vua Lý Thái Tông nhận định rằng đây là một ngôi đền cổ xưa linh thiêng, tuyệt đối không nên tùy tiện xê dịch. Do đó, nhà vua quyết định cho tu bổ lại đền thờ. Triều đình đã ra lệnh dỡ bỏ toàn bộ các ngôi nhà dân ở sát mặt phố bên ngoài, chỉ giữ lại một gian nhà tôn nghiêm ở phía trong để làm nơi phụng thờ tôn kính.
Đêm hôm ấy, vị thần hiển linh tạo ra một trận gió bão cực kỳ lớn thổi từ phương Bắc xuống. Sức gió mạnh đến mức cuốn phăng và làm sụp đổ hoàn toàn những ngôi nhà dân xung quanh đền, thế nhưng riêng ngôi đền thờ thần vẫn đứng vững vàng, nguyên vẹn không hề mảy may sứt mẻ. Chứng kiến sự việc lạ lùng đó, vua Lý Thái Tông lấy làm kinh ngạc và gặng hỏi quần thần.
Sau khi nghe quần thần tâu bày chi tiết về những lần hiển linh hiển hách của vị thần từ thuở trước, nhà vua vô cùng vui mừng và cảm thán: “Đây quả thực là vị chính thần có công coi sóc cuộc sống của nhân dân thế gian!”. Ngay sau đó, vua ban xuống chiếu chỉ chuẩn bị lễ vật tế lễ trang trọng tại đền và quy định lệ thường niên: cứ mỗi dịp đầu xuân năm mới, nhà vua và triều đình sẽ trực tiếp đến đền làm lễ cầu phúc cho quốc thái dân an. Thần cũng được nhà vua ban sắc phong mỹ tự là Quảng Lợi Vương.
Sự linh ứng của ngài còn được minh chứng qua việc bảo vệ khu phố cổ. Trước đây, khu chợ cửa Đông từng xảy ra ba vụ hỏa hoạn lớn, thiêu rụi hầu hết các dãy nhà trong phố. Thế nhưng điều kỳ diệu là ngọn lửa dữ dội ấy khi lan đến ranh giới đền thờ thần đều tự động tắt lịm, không bao giờ xâm phạm đến nơi ngài ngự trị.
Sắc phong qua các triều đại và bài thơ của Trần Quang Khải
Vào triều đại nhà Trần, uy danh của thần tiếp tục được nâng cao tôn quý qua các đợt sắc phong. Đến năm Trùng Hưng thứ nhất, thần được gia phong thêm hai chữ Thánh Hựu. Đến năm Hưng Long thứ 21, vương triều tiếp tục ban tặng thêm hai chữ Phù Ứng, đồng thời tiến tước ngài lên hàng Đại Vương.
Trong thời kỳ kháng chiến chống ngoại xâm, quan Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải khi ghé thăm đền đã cảm kích trước uy linh của ngài và đề lại một bài thơ chữ Hán oai hùng:
Tích văn nhân đạo Đại vương linh,
Kim nhật phương tri quỷ mị kinh.
Hỏa bác tam khu thiêu bất tận,
Phong trần nhất trận phiến nan khuynh.
Chỉ huy vọng lượng tam thiên chúng,
Đàn ấp yêu ma bách vạn binh.
Nguyện trượng dư uy thanh bắc khấu,
Đốn linh vũ trụ lạc thanh bình.
Dịch nghĩa bài thơ:
“Từ trước tới nay vẫn nghe người đời truyền tai nhau rằng Đại vương vô cùng linh thiêng. Đến ngày hôm nay mới tận mắt chứng kiến lũ ma quỷ đều phải khiếp sợ trước uy nghiêm của ngài. Ngọn lửa dữ bùng lên ba lần cũng không thể thiêu rụi được ngôi đền cổ. Trận gió bão điên cuồng quét qua cũng chẳng thể làm lung lay hay nghiêng ngả nơi ngài ngự trị. Thần chỉ huy ba nghìn âm binh dũng mãnh, đủ sức trấn áp và dẹp tan hàng trăm vạn yêu ma quấy nhiễu. Kính xin được nhờ cậy phần uy lực còn lại của Đại vương để quét sạch bóng giặc phương Bắc xâm lược, trả lại sự yên bình, thái bình thịnh trị cho đất nước.”
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử thăng trầm của đất nước, cho đến tận ngày hôm nay, ngôi đền thờ Bạch Mã vẫn đứng uy nghiêm, tráng lệ giữa lòng thủ đô. Tiếng tăm và sự linh thiêng anh dũng của vị thần bảo hộ đất Thăng Long vẫn luôn tồn tại mãi mãi trong tâm thức của bao thế hệ người dân Việt Nam.
