Huyền tích thần Linh Lang đây là bản thần tích về thần Linh Lang tại xã Dịch Vọng Trung, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức; khu vực này nay thuộc phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Văn bản được trích từ tài liệu “Thần tích tỉnh Hà Đông”. Ngài được nhân dân thờ phụng trang nghiêm ở nhiều nơi tiêu biểu như đền Voi Phục, Kim Mã, Láng Hạ… Bản dịch này do tác giả Nguyễn Duy Hĩnh thực hiện, trích trong tác phẩm “Tín ngưỡng Thành Hoàng Việt Nam”.
Tư liệu gốc thuộc tỉnh Hà Đông, phủ Hoài Đức, huyện Từ Liêm, tổng Dịch Vọng Trung, xã Dịch Vọng. Bản thần tích được sao chép và lưu giữ bởi quan Quản giám trị điện bách thần thuộc Bộ Lễ triều Lý. Sắc chỉ và thần hiệu do Hoàng đế bệ hạ sắc phong kính cẩn:
Sắc phong danh hiệu: Đô Cảnh Thành Hoàng quốc vương thiên tử linh thần đại vương.
Ban tặng mỹ tự: Thành hoàng quốc vương thiên tử tôn nghiêm chỉnh thuận thánh hóa đạt văn chiêu nhân dung mục phù tộ an dân nguy đức tuấn kiệt phổ huệ thùy hữu hùng tài vĩ lược vĩ tích phong công.
Khi tân vương lên ngôi kế vị đại thống, theo điển lệ đã tiến phong thần vị cao quý, tuyên tặng danh hiệu Linh Lang Đại Vương tôn thần thượng đẳng. Sắc chỉ được chuẩn hứa ban về cho các bậc phụ lão sách Hậu thuộc trang Dịch Vọng, tổng Dịch Vọng, huyện Từ Liêm, quận Quốc Oai, trấn Sơn Tây nghinh đón sắc thần về phụng sự, mong ngài che chở và phù hộ cho muôn dân lầm than.
Thân thế kỳ bí và mối nhân duyên hoàng tộc
Năm xưa, khi vua Lý Thái Tổ dựng xây cơ nghiệp tại vùng đất cổ Pháp danh hương, truyền qua bốn đời vua trị vì đất nước thì thiên hạ thái bình, thịnh trị. Một hôm nọ, nhà vua ngự giá tuần du thưởng ngoạn vườn hoa nơi kinh thành. Do cơ duyên trời định, dọc đường đi vua gặp trang Bồng Lai.
Nơi ấy có ông Nguyễn thái công cùng bà Dương Thị Triệu luôn một lòng làm việc thiện, dốc lòng tích đức hành thiện, ngày đêm dâng hương bái lạy Thượng đế. Một đêm, bà mơ thấy căn nhà rực sáng bởi luồng hào quang màu đỏ, rồi có một con rắn hoa bò đến, hóa thành hai bông sen trắng vừa chớm nở. Sau giấc mộng lạ, bà mang thai. Tròn một năm sau, đúng vào ngày mùng 10 tháng 2 năm Canh Thìn, bà sinh hạ được một người con gái dung mạo diễm lệ tuyệt trần, đặt tên là Nguyễn Thị Hương. Sắc đẹp của nàng được ví như chim sa cá lặn, hoa nhường nguyệt thẹn.
Khi nàng khôn lớn thì người cha sớm qua đời, nàng ở vậy phụng dưỡng mẹ già. Đến năm 19 tuổi, trong một lần theo cậu ruột lên chơi nơi kinh đô, nàng vô tình chạm mặt xa giá của vua Lý Thái Tông giữa đường. Vua vừa nhìn thấy đã đem lòng yêu mến, ngỏ lời muốn kết duyên Châu Trần nên duyên chồng vợ. Ngay sau đó, vua đón nàng vào cung, phong làm cung phi thứ bảy và hết mực sủng ái hơn hẳn các phi tần khác. Vì yêu thương nàng, vua đã cho dựng một cung điện riêng tại Trại Thị để nàng sinh sống.
Trong một lần nhàn hạ dạo chơi, cung phi ra tắm mát tại Tây Hồ để thưởng ngoạn phong cảnh. Đêm hôm đó trở về cung, bà nằm chiêm bao thấy một người mặc y phục màu xanh, tay cầm lá cờ màu vàng, tự xưng là sứ giả của Thiên Đế. Người này quỳ lạy trước sân cung điện và thưa rằng: Vài năm tới đất nước sẽ gặp nạn ngoại xâm lớn, vì vậy Hoàng thiên ban sắc lệnh sai thủy thần giáng thế đầu thai làm con trong hoàng tộc để dẹp giặc cứu nước, xin bà chớ nghi ngờ. Dứt lời, người đó bay thẳng lên trời biến mất. Biết có thiên cơ báo mộng, cung phi không chút nghi ngại. Từ đó, bà mang thai và đủ một năm thì hạ sinh vào giờ Tý ngày mùng 10 tháng Giêng năm Giáp Thìn.
Ngày hạ sinh, hương thơm ngào ngạt lan tỏa khắp không gian. Đứa trẻ là một quý nam có phong thái khôi ngô, diện mạo phi thường, cốt cách cao quý và trí tuệ đặc biệt xuất chúng hơn người. Khi đứa bé tròn ba tháng tuổi và đã cứng cáp, cung phi bế con đến dâng lên vua. Hoàng đế vô cùng vui mừng, lập tức truyền mở đại tiệc ăn mừng và đặt tên con là Hoàng Linh Lang.
Hiển linh đánh dẹp giặc ngoại xâm
Thời gian trôi qua, Linh Lang dần khôn lớn. Lúc bấy giờ, giặc Vĩnh Trinh dẫn theo 30 vạn quân hung hãn tràn vào xâm chiếm vùng Sơn Nam. Các tướng lĩnh và quân triều đình nhiều lần ra quân đánh dẹp nhưng đều thất bại, khiến văn võ bá quan đều hoang mang lo sợ. Hoàng đế đứng ngồi không yên trước nguy cơ đất nước bị xâm lăng.
Vua bèn triệu tập quần thần để bàn kế sách, chọn ngày lành làm đại lễ cầu đảo bái tế trời đất cùng bách thần. Đích thân vua nằm tịnh dưỡng trong đàn tế lễ. Đột nhiên, vua thấy một ông lão râu tóc bạc phơ từ trên trời giáng xuống chỉ điểm. Vua vội vàng hỏi: “Nay có giặc dữ đến xâm phạm bờ cõi, không biết cục diện bại thắng thế nào? Xin cụ chỉ giáo cho”. Ông lão ngồi trầm ngâm bốc thăm lập quẻ rồi bảo vua rằng: “Nếu tìm được người tài thì mối lo giặc giã này sẽ tự khắc được dẹp yên”. Nói xong, cụ già liền biến mất.
Nhận ra có thiên thần chỉ dẫn, vua lập tức sai sứ giả đi khắp các chợ búa, trang ấp phát cáo thị chiêu mộ hiền tài, hứa sẽ ban phong tước vị cao quý cho người có công giúp nước.
Lúc bấy giờ, Linh Lang tuy chưa biết nói, nhưng khi nghe thấy tiếng loa truyền của sứ giả chiêu mộ binh sĩ thì bỗng nhiên bật cười rồi hỏi mẹ: “Đất nước đang có giặc dã hay sao?”. Người mẹ đáp: “Vừa qua triều đình gặp nạn giặc lớn, hoàng thượng cùng bá quan văn võ đều lo sợ. Con vẫn còn là đứa trẻ thơ, hỏi chuyện này làm chi?”. Linh Lang mỉm cười rồi bảo: “Mẹ hãy mau gọi sứ giả vào đây cho con”. Nói rồi, cậu bé ngồi dậy nói với sứ giả: “Ngươi hãy lập tức về tâu với hoàng thượng chuẩn bị cho ta một thớt voi chiến thật khỏe, một lá cờ vuông lớn, và phong cho ta chức quốc vương thiên tử sung tông đại thần thì việc dẹp tướng giặc Vĩnh Trinh không có gì đáng ngại cả”.
Sứ giả tức tốc hồi triều tâu bẩm sự việc lên nhà vua. Vua nghe xong mừng rỡ khôn xiết, lập tức ban lệnh chọn thớt voi dũng mãnh nhất cùng một lá cờ vuông lớn mang đến. Vừa lúc nhận được voi và cờ, Hoàng Linh Lang liền ăn một bữa no nê rồi vươn vai đứng dậy, thân hình bỗng cao hơn 5 xích. Ngài cưỡi lên lưng voi, tay phất cờ vuông hét lớn: “Ta là thiên tướng đây!”. Con voi chiến phóng đi như bay thẳng hướng Sơn Nam Thượng, chỉ huy quân sĩ xông thẳng vào đại bản doanh của quân thù. Tướng giặc là Vĩnh Trinh bỗng nhiên lăn ra chết đột tử, quân giặc như rắn mất đầu lập tức tan rã hoàn toàn.
Hóa thánh và sự tôn kính của các triều đại sau
Sau chiến thắng vẻ vang, Linh Lang dẫn quân trở về kinh đô và mở tiệc khao thưởng quân sĩ. Khi hành quân qua trang Dịch Vọng thuộc huyện Từ Liêm, xa giá bỗng dừng lại, lá đại kỳ tự động bay về hướng đông nam còn thớt voi chiến thì quỳ hướng về phía đông. Hoàng Lang đi quan sát địa thế nơi này, nhận thấy có ba ngọn núi sừng sững, dòng nước chảy uốn lượn ôm phía sau núi, nhận định đây là vùng đất quý để gửi gắm linh hồn. Sau đó, ngài dẫn quân bản bộ trở về Trại Thị để bái lạy mẹ.
Ít lâu sau, ngài bỗng mắc bệnh đậu mùa, nằm chạy chữa ròng rã một tháng trời vẫn không thuyên giảm. Vua Lý Thái Tông đích thân đến thăm, nắm tay Hoàng Lang mà bảo rằng: “Khanh quả thực là con ta thì mong chứng bệnh này mau chóng tiêu trừ”. Hoàng Lang đột nhiên thưa lại rằng: “Thần vốn không phải là con ruột của bệ hạ, chẳng qua chỉ đầu thai xuống nhân gian để báo quốc dẹp giặc mà thôi”. Nói đoạn, ngài liền đứng dậy, phất lá cờ ném lên không trung rồi hóa thân về trời vào ngày 20 tháng 7. Thớt voi chiến khỏe mạnh ngày hôm đó cũng hóa theo ngài.
Nhà vua vô cùng thương tiếc, rơi nước mắt gạt lệ, liền họp bàn cùng văn võ bá quan để luận công ban thưởng. Vua hạ lệnh cho quan quản giám thuộc Bộ Lễ chọn ngày lành để soạn sắc phong ngài làm quốc vương thiên tử, đồng thời cấp đất mộc ấp cho 72 đền thờ tại các trang trại và sách, giao cho giám quan mang sắc phong cùng ngân khố đi dựng miếu thờ. Khi đoàn quan viên đến huyện Từ Liêm đã triệu tập các bô lão sách Hậu thuộc trang Dịch Vọng đến bái nhận thần sắc, ngân khố cùng chiếu chỉ của triều đình.
Sau khi nhận sắc phong trở về trại, dân chúng tụ họp đông đủ và mời thầy phong thủy về xem hướng đất dựng đền. Các bậc phụ lão bàn rằng: “Năm xưa chỗ Hoàng Lang dừng chân, lá cờ chiến từng chuyển hướng bay về phía đông, ắt hẳn đây chính là vị trí dựng đền thích hợp”. Nơi đóng quân có địa thế vô cùng đắc địa, hướng lập đền đặt theo hướng Càn Tốn kiêm hướng, phía trước có án đường che chắn, dòng nước chảy ngược tụ hội về trước cửa, phía sau có long cung bao bọc ôm lấy, sơn thủy hữu tình hội tụ. Địa thế này chắc chắn sẽ giúp nhân dân trong vùng làm ăn hưng thịnh, sản sinh ra nhiều bậc hào kiệt, giai nhân tú tài xuất chúng.
Từ đó, người dân Trại Hậu đời đời thờ phụng ngài vô cùng tôn nghiêm và linh ứng. Khi sinh thời, ngài lập chiến công hiển hách phò tá vận nước; lúc thác đi, ngài hiển linh bảo vệ xóm làng, ban ơn đức rộng lớn cho nhân dân. Công đức ấy lưu truyền mãi về sau không bao giờ phai nhạt.
Tên húy cần nghiêm kính kiêng kỵ: Quốc vương thiên tử Hoàng Linh Lang.
- Hằng năm, ngày mùng 10 tháng Giêng: Ngày sinh nhật của Thánh.
- Hằng năm, ngày mùng 10 tháng 2: Ngày nhập tịch.
- Hằng năm, ngày 20 tháng 7: Ngày hóa thánh.
- Hằng năm, ngày 20 tháng 12: Ngày đại tịch.
Văn bản được phụng soạn vào ngày lành, tháng giữa mùa xuân, năm Hồng Phúc nguyên niên (1572) do Đông Các Đại Học Sĩ Viện Hàn Lâm thuộc Bộ Lễ là Nguyễn Bính kính cẩn thực hiện.
Đến ngày lành, giữa mùa thu, năm Vĩnh Hựu thứ 5 (1739), quan Quản giám bách thần tri điện hùng lĩnh thiếu khanh là Nguyễn Hiền phụng mệnh sao chép lại y theo bản chính.
