Hội Đua Voi Ở Tây Nguyên: Bản Hùng Ca Của Người M’nông

Hội Đua Voi Ở Tây Nguyên

Dân tộc: M’nông.
Địa điểm: Dải đất rộng dài hay khu rừng bằng ít cây to.
Thời gian mở hội: Tháng ba.
Đặc điểm: Tinh thần thượng võ và chất hùng tráng lễ hội cổ truyền của người M’nông.

Đối với cộng đồng các dân tộc định cư dọc theo dải Trường Sơn hùng vĩ, voi là loài vật mang giá trị quý hiếm bậc nhất. Chúng là hiện thân của sức mạnh vật chất và sự thịnh vượng của mỗi nếp nhà, mỗi buôn làng. Từ một loài thú hoang dã nơi đại ngàn, khi được đưa về thuần dưỡng, voi biến thành người bạn đồng hành thân thiết của con người trong các hoạt động thường nhật: từ vận chuyển hàng hóa, đi lại, làm nương rẫy, kéo gỗ cho đến tham gia công tác thủy lợi.

Lòng Trung Nghĩa Của Loài Vật Thông Minh Nhất Núi Rừng

Voi sở hữu thân hình đồ sộ nhưng lại là sinh vật thông minh và giàu tình nghĩa bậc nhất trong thế giới tự nhiên. Sử sách xưa đã lưu lại không ít câu chuyện cảm động về lòng trung thành của loài vật này đối với con người. Điển hình là tích hai con voi chiến của Hai Bà Trưng đã cùng nhau tìm về dòng sông Hát – nơi hai vị nữ vương trầm mình tuẫn tiết khi thi hài nổi lên – rồi tự nguyện nhịn ăn cho đến chết. Đền thờ Voi Phục tại Hà Nội ngày nay chính là di tích tôn vinh sự tích thiêng liêng ấy.

Lịch sử cũng chứng kiến câu chuyện lay động tâm can nơi pháp trường, khi thợ săn voi chiến dứt khoát không chịu giẫm đạp lên nữ tướng Bùi Thị Xuân – người chủ cũ kính yêu của mình – dù bị vua Gia Long khép vào hình tội. Trước tình thế ấy, bà phải vỗ về nó bằng lời thúc giục: “Mi hãy giết ta, nếu không mi sẽ chết oan, ta tha tội cho mi”. Nghe lời chủ, con voi cúi đầu, cong vòi vái bà ba lạy, nước mắt ràn rụa rồi mới quấn lấy thân bà tung lên cao, dùng cặp ngà nhọn đón lấy để chủ chỉ phải chịu đau đớn một lần. Xong việc, nó phá xích sắt chạy thẳng vào rừng sâu.

Bên cạnh đó, hình ảnh những thợ voi chiến dũng mãnh trong mũi tiến công đập tan đồn Ngọc Hồi của quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy của đô đốc Đặng Tiến Đông năm Ất Mùi (1789), hay câu chuyện thợ voi già của vua Hàm Nghi tự bẻ xích lao vào rừng nhịn ăn đến chết khi nhà vua sa lưới giặc… đều là những biểu tượng bất tử về lòng trung nghĩa.

Bản Đôn – Thủ Phủ Của Nghề Nuôi Dạy Voi Lâu Đời

Nếu xét trên phạm vi cả nước, voi tập trung đông đảo nhất tại tỉnh Đắk Lắk với hơn 400 con voi nhà, trong đó huyện Ea Súp chiếm số lượng áp đảo. Bản Đôn thuộc huyện Ea Súp là nơi quy tụ nhiều nhóm tộc người như Mnông, Êđê, Lào… Nơi đây không chỉ nổi tiếng với đàn voi nhà lên tới hàng trăm con mà còn được biết đến là cái nôi của nghề săn bắt, thuần dưỡng voi từ bao đời nay. Nghề săn voi rừng vốn vô cùng lý thú nhưng cũng đầy rẫy gian lao, nguy hiểm, đòi hỏi người thợ săn phải hội tụ đủ lòng dũng cảm, sự thông minh và khả năng ứng biến nhanh nhạy trước mọi tình huống bất ngờ.

Công Tác Chuẩn Bị Cho Ngày Hội Đua Voi Tháng Ba

Hội đua voi thường được tổ chức vào mùa xuân, cụ thể là vào dịp tháng ba âm lịch. Đây là khoảng thời gian đẹp nhất trong năm tại vùng đất Tây Nguyên với tiết trời nắng dịu, đất rừng khô ráo, các loài hoa rừng đủ sắc trắng, vàng, tím, hồng đua nhau khoe sắc thắm ven bờ sông suối. Người bản địa thường ví von thời điểm này là: “Mùa con ong đi lấy mật, mùa con voi xuống sông uống nước; mùa em đi phát rẫy, làm nương; anh vào rừng đặt bẫy, gài chông”.

Để chuẩn bị cho hội thao, từ vài tháng trước, các chàng trai trong buôn cùng những mơgát (người quản tượng) đã chủ động dẫn voi đến những khu rừng giàu cỏ tươi để chúng được ăn uống no nê. Voi còn được tẩm bổ thêm các loại thức ăn giàu dinh dưỡng như chuối chín, đu đủ chín, mía cây, bắp ngô, khoai lang, cám gạo. Đặc biệt, nhà buôn tuyệt đối không bắt voi làm các công việc nặng nhọc để đảm bảo chúng có được thể trạng sung sức nhất.

Khi ngày hội cận kề, những đàn voi từ khắp các buôn làng xa gần nô nức kéo về bản Đôn, tập trung tại các bãi đất trống hoặc các cánh rừng thưa ven dòng sông Sê-rê-pốc. Đi cùng đàn voi là dòng người đổ về xem hội trong những bộ trang phục rực rỡ sắc màu. Đường đua được lựa chọn là một dải đất tương đối bằng phẳng, thường là khu rừng thưa ít cây cổ thụ, có bề ngang đủ cho 10 chú voi giăng hàng ngang cùng lúc và chiều dài dao động từ một đến hai ki-lô-mét.

Diễn Biến Kịch Tính Trên Trường Đua Đại Ngàn

Sau hồi tù và rống vang báo hiệu, đàn voi dưới sự điều khiển của các chàng mơgát lần lượt tiến vào bãi đất bằng, xếp thành hàng ngang ngay ngắn. Nhiều con rống lên vang dội như thể nhận thức được tầm quan trọng của cuộc đấu tài sắp tới. Theo hiệu lệnh từ người điều hành, từng tốp voi tiến vào vạch xuất phát. Con voi đầu đàn bước lên trước đầy uy nghi, hai chân trước đứng thẳng, ngẩng cao đầu quay vòi mấy vòng chào khán giả hai bên rồi lùi lại vị trí cũ.

Tiếng hoan hô, vỗ tay cổ vũ của người xem vang lên rộn rã hòa cùng tiếng chiêng, tiếng trống thúc giục liên hồi. Ngay sau đó, không gian trường đua bỗng lặng đi trong sự hồi hộp, căng thẳng. Trên lưng mỗi chú voi là hai chàng mơgát dũng cảm khoác lên mình bộ trang phục sặc sỡ kiểu tướng lĩnh thời xưa, giữ tư thế sẵn sàng chờ lệnh. Một tiếng tù và rúc to vang lên ra hiệu xuất phát. Những chiếc chân voi to như cột nhà vốn di chuyển ung dung hàng ngày đột ngột bật lên như những chiếc lò xo, phóng lao về phía trước trong tiếng hò reo vang dội của khán giả, làm chấn động cả núi rừng.

Chàng mơgát ngồi phía trước đầu voi cúi rạp mình, ngẩng đầu quan sát đường đua và điều khiển voi bằng một thanh sắt nhọn dài khoảng một mét gọi là kreo (tiếng Mnông nghĩa là gậy điều khiển), đâm mạnh vào da để thúc voi tăng tốc. Trong khi đó, người mơgát thứ hai ngồi phía sau dùng chiếc búa gỗ kốc nện mạnh vào mông voi để giữ cho voi chạy nhanh và đúng lộ trình. Trên đường đua khốc liệt, bụi đất và lá khô cuốn lên mù mịt, tiếng gió rít bên tai hòa cùng tiếng cành lá gãy rầm rịch dưới những bước chân voi dồn dập.

Khi bóng dáng chàng mơgát trên lưng chú voi dẫn đầu xuất hiện ở vòng quay trở về đích, khán giả khắp nơi reo hò vang dội như sấm dậy. Tiếng trống, tiếng chiêng thúc giục liên hồi chúc mừng người thắng cuộc. Những chú voi đoạt giải giơ cao vòi vẫy chào quần chúng, rồi ngoan ngoãn bước đi ung dung, tai phe phẩy, mắt lim dim nhận những khúc mía tím hay óng đường do bà con ban tặng.

Khi ngày vui khép lại, những chú voi dự thi lần lượt trở về buôn làng xa xôi, mang theo bầu không khí rộn ràng của hội hè. Những con voi và chàng mơgát chiến thắng khi về đến làng sẽ được dân chúng ra tận đầu bản chào đón, thưởng quà như những người hùng. Thường thì vinh quang này vẫn thuộc về bản Đôn – buôn làng của người Mnông có đàn voi đông nhất và sở hữu truyền thống huấn luyện voi giỏi nhất vùng.

Ý Nghĩa Văn Hóa Và Sự Kiện Lịch Sử Năm 1993

Ngày hội đua voi là sự kiện văn hóa lớn tại Tây Nguyên, phản ánh rõ nét tinh thần thượng võ của người M’nông – một dân tộc dũng cảm đã quen với tốc độ và những hiểm nguy trong các cuộc săn voi rừng. Chính khung cảnh thiên nhiên vĩ đại của núi rừng Tây Nguyên đã làm tôn lên chất hùng tráng của ngày hội cổ truyền này.

Vào tháng tư năm 1993 (nhằm tháng ba âm lịch), một sự kiện quy mô lớn mang tên “Liên hoan lễ hội cồng chiêng và đua voi Tây Nguyên” đã được long trọng tổ chức tại thị xã Buôn Mê Thuột – thủ phủ tỉnh Đắk Lắk. Đồng bào các dân tộc anh em như Giarai, Êđê, Mnông, Bahnar, Xêđăng, Catu, Chăm H’roi từ khắp các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Lâm Đồng và dọc dãy Trường Sơn miền Trung đã hội tụ về đây. Sự kiện còn thu hút các đoàn nghệ thuật từ nhiều tỉnh bạn, bao gồm cả Thành phố Hồ Chí Minh.

Mở đầu ngày hội là cuộc diễu hành hoành tráng của 35 con voi đến từ các huyện Ea Súp, Krông Bông, Lắc, H’lao, Đắc Min. Đàn voi cao lớn, lưng phủ khăn thêu sặc sỡ, được dẫn dắt bởi một con voi già trên 160 tuổi, sải bước giữa sự chào đón nồng nhiệt của người dân đường phố Buôn Mê Thuột.

Cuộc đua voi chính thức diễn ra vào ngày 8 tháng 4 ngay trên sân vận động thị xã, kết hợp cùng các trò chơi độc đáo như đá bóng voi, ném gỗ voi, mang đến sự ngạc nhiên và hứng khởi cho hàng vạn khán giả trên khán đài. Tuy nhiên, không gian chật hẹp của sân vận động vốn chỉ phù hợp với con người đã làm hạn chế tầm vóc tranh tài của những chú voi đồ sộ – những sinh vật vốn quen hoạt động giữa thiên nhiên rộng lớn, có cây cỏ, suối chảy, có trời xanh và gió lộng đại ngàn. Dẫu vậy, cuộc thi vẫn là một dấu ấn khó phai trong dòng chảy văn hóa Tây Nguyên.