- Đối tượng suy tôn: Hai Bà Trưng (Trưng Trắc và Trưng Nhị).
- Địa điểm và thời gian: Lễ hội diễn ra tại 3 địa điểm chính với các mốc thời gian cụ thể:
- Hội đền Hát Môn: Xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, Hà Nội (trước đây thuộc Hà Tây). Hội mở 3 lần trong năm:
- Ngày 8 tháng Ba: Giỗ Vua Bà.
- Ngày 4 tháng Chín: Hội quân, lập đàn thề.
- Ngày 24 tháng Chạp: Mừng thắng trận.
- Hội đền Hạ Lôi: Xã Hạ Lôi, huyện Mê Linh, Hà Nội (trước đây thuộc tỉnh Vĩnh Phúc).
- Thời gian: Ngày 6 tháng Giêng (Lễ khao quân, rước kiệu hội đồng).
- Hội đền Đồng Nhân: Phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
- Thời gian: Từ ngày 3 đến ngày 6 tháng Hai (Chính hội là ngày 5 tháng Hai).
- Hội đền Hát Môn: Xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, Hà Nội (trước đây thuộc Hà Tây). Hội mở 3 lần trong năm:
- Đặc điểm nổi bật: Ở hội đền Hát Môn có tục thả bánh trôi trên dòng sông Hát rất độc đáo và linh thiêng.
Trong tâm thức ngàn năm của người Việt, cuộc khởi nghĩa năm 40 của Hai Bà Trưng tuy chỉ giữ vững nền tự chủ trong khoảng thời gian ngắn ngủi từ năm 40 đến năm 43, nhưng đã tạc vào chính sử một trang son chói lọi. Đó không chỉ là niềm vinh quang riêng của nữ giới, mà còn là ngọn lửa nuôi dưỡng ý chí độc lập độc bản của cả một dân tộc chống lại ách đô hộ Đông Hán.
Người trong nghề chúng tôi khi đi điền dã khắp nẻo đường đồng bằng sông Hồng thường bắt gặp dấu kính ngưỡng ấy rải rác khắp nơi. Từ đền thờ nữ tướng Thiều Hoa ở vùng Tam Đảo (Mê Linh) hay thị xã Vĩnh Yên, cho đến hội đền Nghè đất Hải Phòng phụng thờ nữ tướng Lê Chân, hay hội Tiên La ở Thái Bình tôn vinh Bát Nàn công chúa… Thế nhưng, nếu muốn thấu cái không khí linh thiêng, đại diện cho lòng tri ân của cả nước, người ta thường tìm về bộ ba ngôi đền chính: đền Hát Môn (Phúc Thọ), đền Hạ Lôi (Mê Linh) và đền Đồng Nhân (quận Hai Bà Trưng).
Hội đền Hát Môn – Khúc tráng ca bên cửa sông Đáy
Nơi dòng sông Hát hòa vào sông Hồng tại phận đất xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội) chính là chốn linh từ chứng kiến những lát cắt lịch sử bi tráng nhất. Từ một am thờ nhỏ thuở ban đầu, đến thế kỷ XI cư dân mới hò nhau tôn tạo bề thế hơn, và mãi tới thời Lê Thần Tông (1623 – 1657) mới chính thức dựng bia đá ghi công.
Cái mạch đất Hát Môn vốn là hậu cứ nghĩa quân, nơi Hai Bà lập đàn thề khởi nghĩa, truyền hịch vang dội ba quân. Nơi đây cũng ghi dấu trận phản công kịch liệt đánh bại quân Mã Viện vào ngày 24 tháng chạp năm Kỷ Hợi (năm 40) và cũng là chốn Hai Bà trọn lời thề son sắt với non sông, gieo mình tuẫn tiết. Chính vì thế, dân làng nơi đây một năm mở hội tới ba lần để tưởng nhớ.
Nghi lễ mùng 6 tháng 3 và câu chuyện chiếc bánh “tù tì”
Ngày giỗ Hai Bà tuẫn tiết (chính hội diễn ra ngày 8 tháng ba), cửa đền rộng mở, khói hương nghi ngút. Người làm hội Hát Môn có một phong tục dâng cúng rất lạ: bánh trôi nước, hay còn gọi là bánh “tù tì”.
Ngồi nghe các cụ từ kể chuyện mới biết, xưa kia lúc nghĩa quân chuẩn bị lên đường xuất trận, có một bà cụ nghèo bán bánh trôi đã dâng cả gánh hàng dâng lên Hai Bà để tỏ lòng mộ nghĩa. Hai Bà cảm kích nhận quà, chia đều cho quân sĩ ăn điểm tâm trước giờ xung trận. Để ghi nhớ cái tâm của bà cụ, làng đã lập một ngôi miếu nhỏ bên gốc đa cổ thụ trước cửa đền để khói hương thờ phụng quanh năm.
Cái đặc biệt là bánh trôi ở Hát Môn không nặn tròn dẹt như thường tình mà nặn theo hình quả trứng, đúng 100 viên nhỏ tượng trưng cho trăm người con của bọc trăm trứng Âu Cơ – Lạc Long Quân, bởi Hai Bà vốn là dòng dõi vua Hùng. Sau khi tế xong, người ta chọn ra đúng 49 viên bánh (ứng với số người con theo cha Lạc Long Quân xuống biển), đặt gọn vào lòng những bông hoa sen rồi thả xuôi dòng sông Hát. Đứng trên bờ nhìn những đóa sen chở bánh trôi khuất dần về phía biển, lòng người lữ thứ không khỏi bồi hồi trước một nét văn hóa đang thở, kết nối sâu sắc với cội nguồn dân tộc.
Cũng vì điển tích này, dân Hát Môn kiêng ăn bánh trôi vào ngày Tết Hàn thực (mùng 3 tháng 3). Phải đợi đến mùng 8 tháng 3, khi lễ tế trong đền hoàn tất, dân làng mới dám làm bánh dâng cúng tổ tiên và thưởng thức.
Lập đàn thề mùng 4 tháng chín và Đại lễ mừng chiến thắng 24 tháng chạp
Nếu ngày mùng 4 tháng chín tái hiện lại ngày hội tướng, lập đàn thề khao quân với bảy vạn tân binh của thân mẫu Man Thiện bằng lễ kéo cờ đại ngũ hành uy nghi, thì hội ngày 24 tháng chạp mới là ngày hội lớn nhất và long trọng nhất.
Đúng đêm đông lạnh giá, để tái hiện lại trận đại bại của Mã Viện năm xưa, hàng ngàn trai gái thanh tân được tuyển chọn đóng vai nam binh, nữ binh, tiền binh, hậu binh đứng thành hàng ngũ chỉnh tề. Tám cô gái xinh đẹp, vẹn toàn nhất làng được cử để hầu kiệu Hai Bà.
Đúng giờ Tý nửa đêm, tiếng trống hiệu vang lên, đám rước cử hành dưới ánh đuốc sáng rực trời, nhạc lễ trầm bổng dẫn Thánh ra sông làm lễ “mộc dục” (tắm tượng) rồi rước trở về điện làm lễ dâng tế, chúc tụng. Cái không khí hành quân ấy khiến người xem như sống lại những năm tháng oanh liệt thuở xưa.
Hội đền Hạ Lôi – Lễ nghĩa “Giao kiệu” chốn quê nhà
Theo những trang thần tích cổ, làng Hạ Lôi, huyện Mê Linh (xưa thuộc Phúc Yên, nay thuộc Hà Nội) chính là quê cha đất tổ của Hai Bà Trưng. Ngôi đền nằm gần dòng sông Hồng, cách bến Chèm chừng 9 km về hướng Tây. Hội đền mở từ mùng 6 tháng giêng, tương truyền là ngày yến hạ khao quân sau ngày thắng trận.
Cái hay của hội Hạ Lôi là người dân háo hức chờ đợi tục “Rước kiệu hội đồng”. Để chuẩn bị, từ giữa tháng chạp, làng đã tuyển ra 150 cô gái và 70 chàng trai tuấn tú để tập dượt cờ kiệu. Đền có ba cỗ kiệu: hai cỗ kiệu rước Thánh vị Hai Bà được sơn son thếp vàng lộng lẫy, riêng kiệu thờ ông Thi Sách (chồng bà Trưng Trắc) lại được sơn đen tuyền chỉnh chu, như một sự kiêng dè vì ông đã anh dũng hy sinh dưới mũi gươm đao kiếm của kẻ thù.
Sáng mùng 6, sau ba tuần rượu tế, ba cỗ kiệu lần lượt chuyển động từ sân đình ra ngoài tam quan. Khi đến đoạn đường cái làng – nơi người già vẫn gọi là đường Trống Quân, kiệu ông Thi Sách đang dẫn đầu bỗng dừng lại để hai kiệu của Hai Bà vượt lên trước. Người trong nghề gọi đây là tục “Giao kiệu”, thể hiện một triết lý lễ nghĩa sâu sắc của cha ông:
“Nội gia huynh đệ, ngoại quốc quân thần”
Ý nghĩa là khi ở trong khuôn viên đền (được coi là trong nhà), ông Thi Sách là chồng nên kiệu đi trước. Nhưng khi bước ra đường cái (việc nước), Hai Bà là vua, ông Thi Sách là bề tôi nên phải nhường kiệu đi sau. Đoàn rước vừa đi vừa hát khúc ca cổ đối đáp giữa nam và nữ để cổ vũ binh sĩ, vang vọng cả một triền sông.
Hội đền Đồng Nhân – Điệu múa đèn thờ huyền ảo chốn kinh kỳ
Ngược dòng lịch sử về năm 1160 dưới thời vua Lý Anh Tông, tương truyền đêm mùng 6 tháng hai, có hai pho tượng bằng đá của Hai Bà tỏa ánh sáng rực rỡ, trôi dạt vào bãi Đồng Nhân bên dòng sông Hồng. Thấy điềm linh ứng, dân làng rước về thờ phụng và được nhà vua truyền lệnh lập đền. Đến năm 1819, do bãi sông bị lở, ngôi đền được di dời về chốn Giảng Võ đường thời Lê xưa (nay thuộc phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng).
Hội đền diễn ra từ mùng 3 đến mùng 6 tháng hai, trong đó ngày mùng 5 là chính hội với nghi lễ tắm tượng ngoài sông Hồng và một lễ mục đặc sắc bậc nhất: múa đèn thờ.
Tốp múa gồm mười đến mười hai cô gái thanh tân bước vào độ tuổi đẹp nhất, diện áo dài đen, quần hồng, thắt lưng đỏ ngoài áo buộc nút cạnh sườn, đầu chít khăn lụa màu. Trên tay mỗi cô là hai chiếc đài gỗ nhỏ dán hoa giấy, thắp một ngọn nến sáng rực ở giữa lòng đài.
Nói thì dễ chứ nhìn các cô uyển chuyển bước lên xuống, đan chéo đội hình theo nhịp trống cơm bập bùng mới thấy hết cái nét duyên dáng chốn cung đình xưa. Điều khiển đoàn múa là nhân vật “đĩ đánh bồng” do một nam nhạc công giỏi đóng giả nữ, mặc áo the quần trắng, lưng đeo trống cơm uốn éo giữ nhịp, tạo nên một không khí tươi vui nhưng không kém phần trang nghiêm trước hương án thờ.
Đến ngày mùng 6, làng làm lễ rã đám và dâng hương kết thúc. Ba ngôi đền, ba không gian hội hoàn toàn khác nhau nhưng tựu trung lại đều là nơi người dân bộc lộ tấm lòng thành kính, neo giữ những giá trị văn hóa ngàn năm của dân tộc trồng lúa nước.
