Đình Đức Hậu tọa lạc tại thôn Đức Hậu, thuộc địa phận xã Đức Hòa, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Nằm cách khu vực trung tâm Hà Nội tầm 40km, lộ trình di chuyển tới di tích xuất phát từ thị trấn Sóc Sơn rẽ sang phía tay phải, tiếp tục đi qua núi Đôi, qua Tam Đảo (Tân Minh) rồi tới ngã tư Thá (thuộc xã Xuân Giang), từ đây di chuyển thêm chừng 1km nữa sẽ tới địa phận thôn Đức Hậu.
Vị trí tọa lạc và thần tích thánh Tam Giang
Ngôi đình được khởi dựng ngay gần chùa, ngự tại phía tây bắc của thôn Đức Hậu. Không gian tổng thể gồm có các tòa tiền đình, đại đình cùng hậu cung; phía trước tiền đình mở ra một khoảng sân hẹp dẫn vào đại đình, giữa đại đình và hậu cung liên kết với nhau qua một tòa nhà nối tạo thành kết cấu mặt bằng mang hình chữ Công (工).
Đình Đức Hậu là nơi phụng thờ thánh Tam Giang. Căn cứ theo thần phả ghi lại, thánh Tam Giang chính là hai anh em Trương Hống và Trương Hát, có quê quán tại Quế Võ, Bắc Ninh. Dưới thời Tiền Lý, hai ông đã lập nhiều công lao to lớn khi tham gia chiến đấu chống giặc ngoại xâm nên được nhân dân phụng thờ ở rất nhiều nơi. Sau sự kiện Lý Phật Tử đánh dẹp Triệu Quang Phục, hai anh em họ Trương đã quyết giữ trọn khí tiết, tuẫn tiết tại ngã ba Xà trên dòng sông Như Nguyệt vào ngày 10 tháng 4 âm lịch. Kể từ đó, các làng mạc ven sông Cà Lồ đều lập đền miếu tôn thờ và kính cẩn gọi hai ông là thánh Tam Giang.
Niên đại xây dựng và diện mạo kiến trúc tổng thể
Hiện nay chưa có tài liệu xác định chính xác năm khởi dựng ban đầu của ngôi đình. Tuy nhiên, căn cứ vào phong cách điêu khắc trên các mảng cốn, hệ thống xà, đầu dư cùng kẻ bẩy, giới nghiên cứu nhận định di tích nhiều khả năng được tạo dựng vào khoảng thế kỷ 17 và đã trải qua nhiều đợt trùng tu tôn tạo trong các thế kỷ tiếp theo.
Mặt bằng kiến trúc của di tích bao gồm các đơn nguyên chính: nhà tiền tế, đại đình, tòa ống muống và hậu cung.
Nhà tiền tế
Khu tiền tế được dựng với quy mô 5 gian 2 chái, thiết kế hệ mái đao uốn cong thanh thoát, bộ vì kèo tạo tác theo quy cách 4 hàng chân cột. Bộ khung vì tại đây có sự khác biệt rõ rệt giữa gian giữa và gian bên:
- Hai vì giữa và vì cạnh làm theo dạng thượng xà chồng rường, kèo suốt luồn cột quân.
- Hai vì bên thiết kế theo lối trốn cột cái, phía trên chống xà, phía dưới làm kiểu tiền dư hậu bẩy.
Hai gian chái hai bên được xây tường gạch bít kín, riêng các gian chính giữa để thông thoáng cả mặt trước lẫn mặt sau. Nghệ thuật trang trí ở tòa tiền tế thiên về kỹ thuật bào trơn soi gờ chỉ, hoa văn điêu khắc tập trung chủ yếu ở phần đầu rường, đầu bẩy cùng thân kẻ.
Tòa đại đình
Đại đình có quy mô 3 gian 2 chái với các góc mái đao cong vút, sử dụng kết cấu vì kèo 6 hàng chân với tổng cộng 48 cột lớn nhỏ. Trước kia lòng đại đình từng lát sàn gỗ nhưng hiện nay đã chuyển sang lát gạch, dấu vết của hệ sàn cũ chỉ còn lưu lại qua các lỗ mộng trên thân cột. Cấu trúc vì kèo đại đình được phân bổ chặt chẽ:
- Hai vì giữa: Phần thượng làm chồng xà con nhị, câu đầu gối lên đầu cột chạm đầu dư; phần trung làm xà kẻ đấu xà nách; phía trước kê phía sau kết nối trực tiếp với phần ống muống.
- Hai vì cạnh: Phần thượng dựng giá chiêng, phần hạ trung đặt kẻ trường, bên trên có dong đỡ hệ thống hoành mái.
Tòa ống muống và Hậu cung
Khu vực ống muống gồm 2 gian đóng vai trò cầu nối sang hậu cung. Phần vì giữa thiết kế kiểu quá giang kết hợp giá chiêng bên trên, phía dưới chạy hệ xà đỡ tạo thành tầng mái diêm bên dưới (kết cấu dạng chồng diêm).
Tòa hậu cung gồm 3 gian, phần đầu hồi xây kiểu bít đốc tay ngai. Hệ mái phía trước làm kiểu chồng diêm 2 mái bằng diêm giải muống; mái sau làm 1 mái đơn giản tựa trên kết cấu vì kèo gồm 2 cột chính và 1 cột phụ phía trước, phía sau gác trực tiếp vào tường bao. Đáng chú ý, mặt nền tại vì giữa giải muống được đắp cao hơn cốt nền đại đình 80cm, bố trí hai lối bước lên gồm 3 bậc gạch. Trên nóc hậu cung hiện còn dòng chữ ghi niên hiệu Duy Tân nhị niên (1908), song chưa thể khẳng định đây là mốc xây dựng mới hay niên điểm trùng tu hạng mục.
Giá trị điêu khắc nghệ thuật độc bản
Đỉnh cao nghệ thuật chạm khắc tại đình Đức Hậu tập trung rực rỡ nhất tại tòa đại đình. Nơi đây lưu giữ những mảng chạm nổi, chạm bong kênh sống động thể hiện hình tượng rồng có tai kết hợp cùng thế giới muông thú phong phú như chuột, hươu, sóc. Độc đáo hơn cả là các mô-típ đầu rồng mình thú, cảnh tượng người ngồi trên đầu rồng hay hình tượng phụ nữ cưỡi rồng cùng các dải hoa lá cách điệu mềm mại.
Bên cạnh những mảng trang trí kiến trúc quý hiếm ít nơi nào có được, đình Đức Hậu còn bảo tồn một bức phù điêu bằng gỗ chạm khắc thánh Tam Giang cùng mẹ và em gái mang đậm phong cách tạo hình dân gian đặc sắc.
Ghi nhận những giá trị lịch sử và mỹ thuật tiêu biểu, quần thể đình (và chùa) Đức Hậu đã chính thức được Bộ Văn hóa – Thông tin ra quyết định xếp hạng là Di tích kiến trúc nghệ thuật vào ngày 10/3/1994.

Bài viết liên quan
Khám phá Đền Ngọc Sơn Hà Nội: Kiến trúc, lịch sử
Tìm hiểu những nét khái quát về Đền Thờ cổ truyền Việt Nam
Khám phá các ngôi đình làng nổi tiếng
Quy trình nghi lễ thờ cúng tại Đình chuẩn nghi lễ cổ truyền
Bài Văn Khấn Ở Đình, Đền, Miếu, Phủ chuẩn nghi lễ truyền
Bài Văn Tế Thành Hoàng Ở Đình Chuẩn Nghi Lễ Cổ Truyền
Văn Khấn Cho Gia Chủ Bán Khoán Con Vào Chùa Chuẩn Nghi Lễ
Văn Khoán Khấn Mại Đồng Tử Chuẩn Nghi Lễ Cổ Truyền
Văn khấn Cầu Siêu cho Gia Tiên và phong tục đi lễ chùa
Bài văn khấn trước Chính Điện Tam Bảo