Nguồn gốc tên gọi và những truyền thuyết ly kỳ
Dân gian tương truyền, khu vực dựng đền thuở trước từng xuất hiện những dòng nước ngầm đùn lên từ lòng đất tựa như một đống nước lớn, xuất phát từ hiện tượng ấy mà đền mang tên gọi đền Đống Nước. Dưới góc nhìn phong thủy cổ truyền, mảnh đất này nằm trúng vị trí vòi rồng, vì thế mỗi dịp thời tiết chuyển biến thì mạch nước lại tuôn trào, thôi thúc dân làng dựng đền thờ phụng.
Căn cứ vào nội dung ghi chép trong ngọc phả, nơi đây từng có một người thiếu nữ giáng sinh mang nhiều nét dị thường tên là Ngọc Nương. Vào ngày 17 tháng 8, khi nàng trút hơi thở cuối cùng rời cõi tạm, bầu trời bỗng chuyển màu xám xịt, mưa trút xối xả khiến mực nước sông dâng cao cuồn cuộn. Kể từ thời điểm đó, vùng đất này bắt đầu xuất hiện cảnh nước dâng. Những thương khách buôn bán lại qua nhận thấy sự linh ứng màu nhiệm đã cùng nhau hưng công lập miếu tôn thờ Ngọc Nương công chúa.
Bước sang triều đại vua Trần Anh Tông, trên đường đích thân dẫn đại quân xuất trận tiễu trừ giặc Nguyên, nhà vua có dừng chân nghỉ lại nơi đây. Trong giấc chiêm bao, ngài mộng thấy một vị nữ tử tự xưng là ái nữ của Long Vương đến yết kiến, ngỏ ý nguyện phò tá ngầm giúp hoàng đế dẹp tan quân giặc. Sau ngày khải hoàn thắng lợi vẻ vang, triều đình đã cử sứ giả về truyền dụ cho cư dân trại Đống Nước tiến hành trùng tu, tôn tạo miếu điện. Đồng thời, nhà vua ban sắc phong thần hiệu cho bà là “Nữ Bạch Ngọc Hồ, thủy tinh lân tinh công chúa” để muôn dân đời đời hương khói phụng thờ.
Lịch sử xây dựng và vị trí địa lý đền Đống Nước
Dù được khởi dựng từ thời xa xưa theo lời kể của tiền nhân, các cuộc khảo sát hiện trạng cho thấy diện mạo kiến trúc của di tích chủ yếu mang dấu ấn đợt đại trùng tu dưới triều Nguyễn. Hầu hết các hạng mục còn hiện diện đến ngày nay đều thuộc phong cách kiến trúc thời kỳ này. Vào năm 1954, nhân dân địa phương đã cùng nhau quyên góp kinh phí để tiếp tục tu sửa ngôi đền.
Ngôi đền ngự trên một khoảng đất bằng phẳng giữa làng Ngọc Hà. Xét về địa thế xung quanh:
- Phía bên phải giáp ranh với khu vực nhà máy bia Hà Nội.
- Phía bên trái liền kề cụm di tích đình Hữu Tiệp, đình Ngọc Hà và chùa Bát Mẫu.
- Phía sau, men qua trục đường Hoàng Hoa Thám là dải đất Thụy Khuê nằm sát mép Hồ Tây.
- Ở hướng đông nam có đình Đại Yên và hướng tây nam giáp đình Liễu Giai.
Có thể khẳng định đây là khu vực quần tụ mật độ dày đặc các di tích lịch sử cổ kính bậc nhất thủ đô. Bao quanh khuôn viên đền là những rặng cây cổ thụ tỏa bóng mát. Toàn bộ công trình tọa lạc trên thửa đất hẹp, song ngay trước cửa đền lại có một hồ nước vuông vức với diện tích rộng tới 3 sào.
Quy mô và nghệ thuật kiến trúc đặc sắc
Cấu trúc tổng thể của đền bao gồm các hạng mục: cổng tam quan, khoảng sân vườn, dãy tả mạc, hữu mạc, tòa đền chính cùng khu hậu cung.
Cổng tam quan
Công trình tam quan nổi bật với 2 cột trụ biểu đồ sộ. Lối đi chính giữa được thiết kế theo dạng 2 tầng mái giả chồng diêm uốn cong thanh thoát ở các góc mái; hai cửa phụ hai bên cũng được tạo tác kiểu mái giả chồng diêm tương tự nhưng có quy mô nhỏ và thấp hơn.
Khu vực Tả mạc và Hữu mạc
Dãy nhà Tả mạc gồm 5 gian thoáng đãng, giữ vai trò làm nơi đón tiếp khách thập phương và địa điểm hội họp. Trong khi đó, dãy Hữu mạc (khu vực thờ bà Chúa) gồm 3 gian được dựng bởi hai nếp nhà xếp liền theo bố cục chữ “Nhị” (二), sử dụng kết cấu vì kèo trốn cột kết hợp hai tầng mái. Gắn liền với hai dãy tả hữu mạc là hai lầu thờ dành riêng cho Tứ phủ Cô và Tứ phủ Cậu.
Đền chính và bài trí nội thất thờ tự
Khu vực đền chính được tạo thành từ 3 nếp nhà: tiền đường và trung đường bố trí nằm song song, phía sau trung đường là hậu cung nối liền trực tiếp:
- Tại tòa trung đường: Gian bên phải an vị tượng Đức Ông, gian bên trái đặt khám thờ tượng Phật Quan Âm nghìn tay nghìn mắt. Vị trí chính giữa trang trọng đặt ban thờ ông Hoàng Bảy cùng ông Hoàng Mười.
- Tại khu hậu cung: Không gian nối tiếp trung đường là nơi tôn nghiêm phụng thờ Tam Tòa Thánh Mẫu, tượng các vị Mẫu được ngự trang trọng bên trong khám thờ sơn son thếp vàng lộng lẫy có lồng kính bảo vệ.
Hệ thống hiện vật nội thất thờ tự tại đây từ các khám thờ, hệ thống cửa võng cho đến các hương án đều mang giá trị mỹ thuật cao nhờ những đường nét chạm trổ vô cùng tinh xảo và điêu luyện.
Giá trị văn hóa và sự công nhận di tích
Sở hữu quy mô kiến trúc khang trang, bề thế, đền Đống Nước từ lâu đã gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của nhân dân, trở thành trung tâm sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng và nơi hội họp quan trọng của dân làng. Công trình đóng vai trò là một di tích lịch sử gìn giữ trọn vẹn bản sắc văn hóa cổ truyền của mạng lưới làng trại nông nghiệp cổ phía tây kinh thành Thăng Long xưa.
Hiện nay, di tích đang được bảo tồn chu đáo nhằm phục vụ công tác nghiên cứu lịch sử, mỹ thuật cũng như minh chứng cho tiến trình phát triển ngàn năm của thủ đô. Vào ngày 11/5/1993, đền Đống Nước đã chính thức được Bộ Văn hóa – Thông tin ra quyết định xếp hạng là Di tích nghệ thuật cấp quốc gia.

Bài viết liên quan
Khám phá Đền Ngọc Sơn Hà Nội: Kiến trúc, lịch sử
Tìm hiểu những nét khái quát về Đền Thờ cổ truyền Việt Nam
Khám phá các ngôi đình làng nổi tiếng
Quy trình nghi lễ thờ cúng tại Đình chuẩn nghi lễ cổ truyền
Bài Văn Khấn Ở Đình, Đền, Miếu, Phủ chuẩn nghi lễ truyền
Bài Văn Tế Thành Hoàng Ở Đình Chuẩn Nghi Lễ Cổ Truyền
Văn Khấn Cho Gia Chủ Bán Khoán Con Vào Chùa Chuẩn Nghi Lễ
Văn Khoán Khấn Mại Đồng Tử Chuẩn Nghi Lễ Cổ Truyền
Văn khấn Cầu Siêu cho Gia Tiên và phong tục đi lễ chùa
Bài văn khấn trước Chính Điện Tam Bảo