- Hoả Quang Tiên Sơn hiệu Đại Thánh (thần Độc Cước): Đây là vị thần linh hiển từng trấn giữ ở vùng Nam nước Bắc, có đền thờ chính vốn được dựng lên tại cửa Roi thuộc tỉnh Nghệ An vô cùng linh thiêng, qua các triều đại lịch sử đều được ban sắc phong chuẩn định.
- Vị hoàng tử thứ hai của vua Lê Thái Tổ: Mang tước công, huý Khôi, từng giữ chức vụ nhập nội tư mã bình chưởng quân quốc trọng sự, người đã lập nhiều công lớn phò trợ vua Lê trong công cuộc kháng chiến chống quân Minh.
- Thổ thần: Theo nội dung các sắc phong còn lưu giữ nguyên vẹn, vị thần này được ghi danh là Bảo vệ Chương Hoà đồn ngưng thổ địa hiển chưng chì thần — vị thần có công trừ tai dớp nạn, đáp ứng mọi lời cầu cúng linh ứng của nhân dân.
Lịch sử hình thành và quá trình trùng tu qua các thời kỳ
Theo truyền thuyết dân gian lưu truyền, ngôi đình vốn xuất thân từ một ngôi miếu cổ kính được khởi dựng từ thời nhà Đường. Dựa vào tấm bia đá cổ hiện còn lưu giữ trong đình, niên đại ghi chép vào năm Dương Hoà nguyên niên (1635) cho hay ngôi đình đã được tôn tạo, xây dựng lại quy mô hơn, rồi đến năm Mậu Tuất (1718) lại tiếp tục được tiến hành tu sửa lớn. Dưới thời vua Lê Cảnh Hưng, công trình này một lần nữa được trùng tu. Cho đến năm Minh Mạng thứ 18 (1836), ngôi đình lại trải qua một đợt tu bổ tiếp theo.
Công trình kiến trúc này được dựng lên trên một khuôn viên đất đai rộng rãi, thoáng đãng nằm ngay sát ven đê sông Hồng. Ngay ở phía trước là khu vực tam quan ngoại thiết kế gồm 3 gian, mở ra 2 cửa lớn thông vào bên trong, hệ thống vì kèo làm theo kiểu giá chiêng, chạm trổ các đường nét hoa lá cách điệu tinh xảo. Kế tiếp bên trong là khu tam quan nội với 3 hàng chân cột vững chãi và sở hữu cấu trúc tương đương với tam quan ngoại.
Đặc sắc kiến trúc tòa đại đình và hậu cung
Tòa đại đình chính sở hữu bố cục kiến trúc gồm hai nếp nhà xếp theo hình chữ nhị. Phần mái nhà tiếp giáp với nhau tạo thành máng nước chảy dọc suốt chiều dài của ngôi đình. Tòa nhà ngoài có phần vì kèo làm theo kiểu chồng giường kết hợp với giá chiêng, phía bên dưới cách đầu khoảng cột chừng một mét có lắp chiếc quá giang (có nét tương đồng như kiến trúc tại Văn Miếu, Hà Nội), các cốn nách được liên kết chặt chẽ bằng hệ thống kẻ chuyền. Ở tòa nhà này, phần vách tường vẫn bảo lưu được kiểu vấn nong đỗ lụa, hoàn toàn chưa bị xây trát tường gạch. Các chi tiết trang trí tại đây chủ yếu tập trung vào đề tài hoa lá cách điệu cùng hình tượng rồng.
Đối với tòa nhà bên trong, kết cấu tổng thể cùng kiểu dáng thiết kế tương tự như tòa ngoài, tuy nhiên các họa tiết trang trí chạm khắc có phần đơn giản hơn. Riêng khu vực hậu cung lại gây ấn tượng mạnh mẽ: điểm đáng chú ý nhất tại đây là bộ vì gian chính giữa cùng với cốn nách và các đầu dư đều được chạm trổ dày đặc các đề tài hình rồng uốn lượn. Phong cách nghệ thuật điêu khắc này mang đậm dấu ấn đặc trưng của thời kỳ Lê Trung Hưng.
Hệ thống di vật quý giá và quyết định xếp hạng di tích
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, đình Đông Ngạc hiện nay vẫn còn bảo tồn được rất nhiều di vật có giá trị lịch sử và nghệ thuật cao như tấm bia đá từ thời Lê, một bộ tranh sơn mài cổ có niên đại thế kỷ 18, chiếc nhang án chạm trổ tinh xảo thế kỷ 18, đôi tượng phỗng độc đáo cùng nhiều đồ tế khí thờ cúng khác.
Với những giá trị văn hóa và kiến trúc lịch sử đặc biệt đó, ngày 23 tháng 7 năm 1993, đình Đông Ngạc đã chính thức được Bộ Văn hoá – Thông tin xếp hạng công nhận là di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.
