Điêu khắc tượng chùa thế kỷ XIX

Điêu khắc tượng chùa thế kỷ XIX người trong nghề đục đẽo như chúng tôi mỗi khi bước chân qua cổng tam quan đều hiểu rằng, pho tượng gỗ nằm im lìm trên bệ kia không đơn thuần là một tác phẩm đục chạm. Nó là cái hồn, là trung tâm của mọi nét sinh hoạt tâm linh quanh ngôi chùa. Người Phật tử lòng thành, kính cẩn gạt bỏ mọi điều xấu xa, nhất tâm hướng về cõi Di Đà. Trong lặng im trước Phật đài, khói đèn hương chính là gạch nối thông linh để người ta gửi lời cầu khẩn từ sâu thẳm tâm can lên đấng vô cùng.

Theo hình thức “Thế gian trụ trì Phật pháp”, người ta dâng lễ để biểu hiện lòng thành. Đồ lễ cần thanh tịch, tinh khiết, thường có đủ: Hương, Hoa, Đăng, Trà, Quả, Thực. Thế nhưng, đời thực thì đôi khi tâm thành chỉ cần một bó nhang là đủ. Con người trót xuống đời, chìm trong tội lỗi, sợ luật nhân quả liền kề nên cầu viện thần linh để tránh khỏi cái Nghiệp. Thần linh ở tầng trên, làm sao liên hệ? Người xưa dùng trực giác nhận ra có lửa là có khói, khói bay lên trời sẽ mang theo lời khẩn cầu. Lâu dần, khói lửa tự nhiên tụ lại thành hương đèn, biến bàn thờ thành biểu tượng của bầu trời. Người Việt mình thường ngầm hiểu hai cây đèn là mặt trời mặt trăng, hương là tinh tú, hai cành hoa giấy là ngày và đêm, chiếc Tam Sơn là bóng dáng Tam giáo đồng nguyên. Giữa bát hương có khi cắm cành trầm hay kỳ nam như một trục vũ trụ nối thế giới nhân sinh với cõi vô biên, cạnh đó là lọ độc bình biểu thị cho cái “tâm không” chân thực, lục căn thanh tịnh.

Ý Nghĩa Sâu Xa Của Nén Tâm Hương Trên Phật Điện

Nói thì dễ nhưng khi đặt nhát đục đầu tiên lên thớ gỗ làm tượng Phật, người thợ luôn phải giữ tâm mình trong sạch, cũng như người đi lễ thắp hương vậy. Người đời nay nhiều khi cứ nhầm tưởng thắp càng nhiều hương là lòng thành càng cao. Cái đó là sai lầm nảy sinh từ sự vô minh, tự đẩy ải mình và làm thần linh “sặc sụa”, khiến tượng thần Phật cũng sạm đi vì sự bất nhã của thế nhân.

Truyền thống của người Việt là thắp hương với tấm lòng trong sáng, tinh lặng. Người Phật tử chỉ nên thắp một nén hương trước mỗi bàn thờ, vì đó chính là “tâm hương”. Ý nghĩa của một nén hương này thực sâu xa, bao gồm năm phần pháp thân:

  • Giới Hương: Cái đức trì giới thơm tho, người giữ giới được ai cũng mến, là một thành phần của pháp thân.
  • Định Hương: Do định được tâm mà thơm. Nhờ giữ giới hạnh thanh tịnh mới định được, tâm không tán loạn, yên trụ vào đạo lý, xa lìa tà ác.
  • Tuệ Hương: Do phát khởi được đức dụng sáng suốt, thông hiểu sự và lý, không mê lầm mà trở nên tinh sạch thơm tho.
  • Giải Thoát Hương: Lìa khỏi được sự trói buộc của mê lầm để thoát khỏi tam giới (Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới) mà vào Niết bàn.
  • Giải Thoát Tri Kiến Hương: Giữ gìn thân tâm không bị trói buộc, ngày càng tinh tấn, luôn hướng về giải thoát.

Cái hay của nén tâm hương là đi từ giới mà định, từ định mà tuệ, từ tuệ mà giải thoát và giải thoát trì kiến. Đó là biểu tượng về cách tu trì chân chính của người con Phật.

Ngoài ra, nhiều khi người ta còn thắp ba nén để cầu xin một việc cụ thể nào đó. Con số ba này khá phức tạp, đại diện cho vũ trụ có ba tạng, tam ngôi thánh thiện, tam vị nhất thể, tam giáo đồng nguyên… Người Việt nhận thấy số ba là số lẻ, lẻ thì động chuyển, nhờ đó mà biến đổi và cân bằng. Thắp ba nén hương là mong gửi gắm tất cả tâm hồn mình lên chu vị thần linh, cầu được hộ trợ để giải thoát khỏi những ẩn ức đang dày vò trong cuộc đời. Hy hữu lắm mới thắp năm, bảy hoặc chín nén trong các cuộc lễ đặc biệt liên quan đến bàn thờ Ngũ phương.

Sinh Hoạt Tự Viện Và Sắc Thái Dân Gian Ngày Hội Chùa

Sinh hoạt tại chùa vốn nhiều mặt và phức tạp. Thường ngày, các nhà sư tu trì, rèn tâm luyện tính theo lẽ đạo với kỷ luật và giờ giấc khắt khe. Tín đồ thì có nhiều loại, người rảnh rỗi thì chiều tối hội với nhau tụng kinh, còn đa phần chỉ tới chùa vào ngày Tết, sóc, vọng, các ngày đản sinh của Phật và Bồ Tát, ngày phát nguyện hoặc giỗ Tổ. Lễ bái có lúc đơn giản là thắp hương, tụng kinh, có lúc lại phức tạp với hình thức chạy đàn nhiễu tháp để nâng cao công quả.

Nhưng cái không khí làm sống dậy cả vùng quê chính là ngày hội chùa, nơi yếu tố Phật đạo hòa quyện với sinh hoạt tâm linh bình dân. Hội chùa thường tiến hành vào những ngày đầu xuân nông nhàn, người ta đi chùa lễ Phật vãng cảnh, cầu vạn sự hanh thông.

Nếu ở đình, đền treo lá cờ thần rất lớn, thì ở chùa, trên một cột buông rất cao người ta lại treo lá phướn ghi câu “Nam Mô A Di Đà Phật” hoặc “Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật”. Từ xa, người Phật tử nhìn thấy dải phướn nhiều màu rực rỡ nổi trên nền xanh nhiệt đới là lòng tự nhiên tĩnh lại, dẹp lòng trần để dọn tâm trong sạch vào đất Phật. Người ta vẫn truyền tai nhau huyền tích về con quạ đen xòe cánh trên đầu cột, tượng trưng cho thiên sứ nhà trời ngậm cái lọng quyền uy đuổi tà ma, nhắc nhở chúng sinh quy y làm thiện dưới ánh sáng chính đạo.

Ngày hội là ngày vui, người xưa mong thần linh cùng xuống hòa nhập ban ân huệ, nên tư duy dân dã đã biến cái cột treo phướn thành một cái thang đi về bằng cách dán hoặc cạo trắng các khoanh giấy đỏ cách đều nhau. Để tà ma khỏi quấy nhiễu, người ta cắm thêm cờ ngũ phương cầu thần tướng bảo hộ, cạnh đó là những cây bông rực rỡ – biểu tượng của ước vọng cầu phồn thực của thôn xã.

Tục Ném Đá Thời Hỗn Mang Và Cuộc Hành Hương Chùa Hương

Mở đầu cho cuộc hành hương vào hội chùa bằng tiếng lao xao vọng về từ thời hỗn mang. Cư dân lúa nước đồng nhất chu trình một năm với quá trình phát triển của lịch sử loài người để mọi sự được bình ổn. Bước đi của nhân loại phải qua thời ăn lông ở lỗ, từ không ổn định tiến dần đến làng xóm trật tự. Vì thế, ngày khởi đầu của chu trình đầu năm phải mang nét sinh hoạt có bóng dáng lao xao của thời hoang nguyên.

Tùy từng vùng mà có hành động biểu hiện khác nhau. Làng Đồng Kỵ thì có tục “dô ông đám”, còn ở Chùa Hương lại là tục ném đá lạ lùng. Sau ngày mồng hai Tết, thường từ mồng ba, dân làng Yến Vĩ và Đục Khê nhận từ tay người phụ nữ của gia đình mình những làn đá củ đậu rồi xông vào tận nhà người khác để ném, bất chấp thân sơ, mâu thuẫn hay ưng ý. Cuộc ném nhau lan tỏa khắp hai làng, trai đinh đuổi nhau náo nhiệt đến mức để lại thương tích trên cơ thể. Tục này diễn ra đến mồng năm. Người địa phương xưa coi những viên đá là vật chứa nguồn sinh lực (nên tuyệt đối không ném đất, gạch), việc đá bay không trật tự sẽ làm bừng tỉnh sức sống cho muôn loài, đi từ rối loạn tới ổn định để đảm bảo mùa màng thuận chiều.

Qua tục ném đá, dân làng mới bước vào lễ mở cửa rừng (mồng sáu tháng Giêng) và hội chùa. Suối Yến trở thành dòng suối văn hóa đón khách thập phương. Thuyền xuôi ngược râm ran tiếng niệm Nam Mô, qua đền Trình lễ thần núi rừng, rồi trôi về miền cực lạc. Tới chùa Thiên Trù gửi niềm hoài niệm vào các vị sư khai phá, người ta bắt đầu lên thăm chùa Tiên Sơn – nơi thờ Phật Mẫu Dao Trì (bia ghi Cửu Thiên Huyền Nữ). Đây là di tích biểu hiện rõ nét sự dung hội giữa tín ngưỡng Nội đạo dân dã với Phật giáo. Chùa làm trong hang đá trắng lung linh, gõ vào nhũ đá kêu vang như chuông trống.

Từ Tiên Sơn, khách thập phương tiếp tục leo qua suối Giải Oan, động Tuyết Kinh, đền Cửa Vọng rồi vào “Nam Thiên Đệ Nhất Động”. Nơi hang động lớn này, cuối động có bàn thờ Phật, bàn thờ Mẫu, và đặc biệt là các nhũ đá được dân gian thổi hồn vào để thành đụn gạo, đụn tiền, đầu cô, đầu cậu… nhằm cầu phúc cho đời. Những hiện tượng ở Chùa Hương rất gần gũi với hình ảnh chùa Mường, việc dùng hang núi làm điện thờ và biến nhũ đá thành tượng Thần, Phật chính là gợi ý về gốc gác chân thực của ngôi chùa danh tiếng này.

Tín Ngưỡng Cầu Mưa Và Các Nghi Thức Độc Đáo Ở Chùa Dâu, Chùa Bối Khê

Đối với các ngôi chùa gắn với lực lượng tự nhiên, người xưa muốn gửi gắm ước vọng cầu mưa phục vụ nông nghiệp. Người trong nghề chúng tôi khi tìm hiểu về vùng Dâu (Thuận Thành – Hà Bắc) đều nhớ mối tình giữa Man Nương và nhà sư Khâu Đà La theo mạch Mật Tông, sinh ra hệ thống Tứ Pháp: Pháp Vân (mây), Pháp Vũ (mưa), Pháp Lôi (sấm), Pháp Điện (chớp). Những vị này vừa là Phật vừa là Thần, mang quyền năng tối thượng.

Chùa Dâu trước cửa có chợ Âm họp lúc chiều tàn, nơi người âm và người dương cùng mua bán theo tích xưa. Các pho tượng Tứ Pháp ở đây được dân trao trách nhiệm bảo đảm nguồn nước. Nếu trời hạn hán, cầu mãi không ứng, người ta sẽ rước tượng Phật ra ngoài sân phơi nắng để các Ngài chịu “cực khổ” cùng dân dưới cái nóng ngày hạ, may ra nhờ thế mà thần Phật cảm thông, dùng pháp lực vô thượng ban dòng mưa ngọt cứu muôn loài.

Cái hay của phong tục Việt Nam là biến không gian tâm linh thành nơi tương tác thực tế giữa con người và thần vị. Tượng Phật không phải để xa lánh nhân gian, mà là để cùng chia sẻ nỗi khát khao sinh kế với người nông dân.

Hiện tượng cầu nước còn diễn ra sinh động ở chùa Bối Khê (tên chữ là Đại Bi). Từ thế kỷ XIII – XIV, khi chùa thành trung tâm văn hóa làng xã, tục đốt pháo màn than vào ngày 12 tháng Giêng âm lịch đã hội tụ về đây. Tiếng pháo liên hồi nổ giòn giã chính là tiếng gọi mùa sinh sôi.

Ở sân sau gác chuông, trên đỉnh cây tre cao 15 mét, người ta treo một bức màn than hình vuông hoặc tròn bằng giấy dó quét thuốc pháo to bằng cái mâm (đường kính 60 – 80cm). Trên màn buộc một quả pháo đại, xung quanh có 16 hoặc 32 pháo con. Tới giờ, các thôn bắn pháo thăng thiên hoặc nhị thanh lên, thôn nào làm lửa bén vào màn than trước là thắng, pháo nổ rộ theo. Người dân tin thôn đó sẽ được mùa. Màn than bùng cháy tỏa sáng chính là hình ảnh mô phỏng chớp, pháo nổ là tiếng sấm gọi mưa về.

Nếu trời vẫn hạn, dân làng sẽ làm lễ tróc rồng. Năm con rồng rơm được bện, sắp đặt theo thế ngũ phương, đầu ngóc cao, miệng ngậm ống đu đủ cắm vào âu nước trong. Thầy phù thủy niệm chú bắt quyết, múa kiếm hò hét gọi rồng làm mưa. Có những khi trời vẫn nắng chang chang, thầy phù thủy phải ra oai, bất thình lình chém đứt đầu một con rồng rơm để nêu gương cho các rồng khác. Thế rồi, mãi trời cũng phải mưa, lòng người truyền nhau về sự linh ứng trong niềm vui sướng nghẹn ngào.

Hội chùa Keo cũng có những sinh hoạt đặc sắc liên quan tới nước như tục đua thuyền vào tháng mười, tiếp nối mạch nguồn văn hóa cầu nước chảy mãi trong tâm thức ngàn năm của người Việt.