Diễn biến cấu trúc ngôi chùa Việt qua các thời kỳ lịch sử

Bất kỳ tôn giáo hay tín ngưỡng nào khi du nhập vào đất nước chúng ta cũng đều tự tạo dựng cho mình những giáo đường riêng. Đối với Phật giáo, dù Phật pháp đặt trọng tâm của vũ trụ quan và nhân sinh quan vào lẽ "vô thường", đề cao quan niệm "vô chấp", nhưng cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Đạo Phật trước hết đến từ phương Nam, nên người ta dễ nghĩ tới các kiến trúc Phật giáo ở buổi đầu mang nhiều nét ảnh hưởng Ấn Độ, hay ít nhất ở đương thời, dạng kiến trúc này đã có sự tương đồng nào đó với điện thờ của các cư dân Đông Nam Á quanh vùng. Rồi dần dần, qua các giai đoạn lịch sử, ngôi chùa Việt mới đi tới sự ổn định. Song, bước đường định hình đó đã diễn ra như thế nào? Chịu sự chi phối bởi các yếu tố chủ yếu nào? Đó là những trăn trở mà người làm nghề chúng tôi luôn muốn làm sáng tỏ.

Một điều không may mắn là các ngôi chùa cổ hiện nay thường không còn nguyên vẹn, nhiều ngôi chỉ còn nằm lại trong sách sử. Thực trạng ấy bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân: sự tàn phá của người phương Bắc, các cuộc nội chiến miên mạn, thiên tai, và cả ý thức tôn tạo không đúng cách của người thời sau. Chính điều này khiến chúng ta khó có thể nhìn nhận một cách chân xác về ngôi chùa, nhất là ở giai đoạn đầu, chưa kể những ý kiến tản mạn xung quanh vấn đề này quá nhiều, gây khó khăn cho việc xác định rõ ràng.

Diễn biến cấu trúc ngôi chùa Việt qua các thời kỳ lịch sử

Dưới thời Bắc thuộc, vào đầu thế kỷ III, Khương Tăng Hội (gốc người vùng Sogdiane – Ấn Độ) đã khai mở Thiền học Đại thừa trên đất Việt. Ông xem Diệu Tâm Chân Như là bản thể của giác ngộ mang tính uyên nguyên của vạn pháp. Vào giai đoạn này, kiến trúc Phật giáo được Tăng Hội gọi là “Miếu đường” (trong bài tựa kinh Pháp cảnh) hoặc có khi ông gọi là “Tông Miếu” (trong Lục độ tập kinh). Ngôn từ “chùa” (tự) chưa thấy xuất hiện.

Các kiến trúc mà Tăng Hội nói tới, đến nay chưa có một điều kiện nào để xác định cụ thể. Chúng ta chỉ có thể ước đoán rằng Phật điện cũng tương tự như những am miếu đương thời, sự khác nhau cơ bản chỉ ở vị thần linh được thờ ở bên trong. Dựa vào các cứ liệu dân tộc học, chùa của người Mường (một cộng đồng gần gũi người Kinh) mang nhiều yếu tố bản sơ, thường là ngôi nhà một gian hai chái, mái lá đơn sơ, gian chính có nhang án, có ảnh Phật hoặc một chữ Phật lớn trên nền đỏ. Cũng có chùa làm dưới một mái đá, mà đôi khi một chóp đá tự nhiên dưới mái đá đó được đồng nhất với Bụt (có khi có cả Bụt đực, Bụt cái…). Ngôi chùa Mường chỉ như một gợi ý cho chúng ta về kết cấu của các điện thờ dưới thời Khương Tăng Hội mà thôi.

Đến thế kỷ V – VI, đạo Phật trong xã hội Việt đã phát triển khá mạnh với nhiều kiến trúc Phật giáo nổi tiếng. Sử sách ghi lại Giao Châu có tới hai mươi ngôi bảo sát. Kiến trúc của các ngôi bảo sát này hẳn khác các kiến trúc Phật giáo ở Trung Hoa, bởi trước hết, chúng ít nhiều gắn với con đường Phật giáo đến từ phương Nam. Một số nhà nghiên cứu mỹ thuật cổ nước ta đã nghĩ tới các điện thờ mang hình thức của một dạng đền núi hoặc cây “tháp”, phần nào có thể tương tự như tháp của một số cư dân phương Nam đất Việt.

Trong đời Đường, cần phải đề cập tới một số vị cao tăng nổi tiếng ở nước ta, đó là Vinitaruci (Tì Ni Đa Lưu Chi, cuối thế kỷ VI) và học trò của ông là Pháp Hiền. Thiền phái này mang nặng yếu tố Mật giáo, đem Phật giáo dung hợp với những tín ngưỡng dân gian, nhờ đó có khả năng phát triển rộng rãi trong quần chúng. Các ngôi chùa thuộc dòng Đại thừa ở đất Việt lúc đó đã hội nhập cả những thần linh địa phương vào phạm trù Phật giáo. Ving mặt tạo hình, chắc rằng ngôi chùa đã xuất hiện ở nhiều làng xóm. Nhà sư trở thành những trí thức tiêu biểu của thời đại, góp phần đảm đương việc nước, đưa Phật giáo trở thành một hệ tư tưởng chính thống của xã hội.

Chính điều đó khiến cho Đinh Liễn (con trai Đinh Tiên Hoàng) quan tâm nhiều tới việc hoằng dương Phật giáo. Đến nay, chúng ta còn tìm được một số cột ghi kinh Phật Bản Nhã ở vùng Trường Yên, kinh đô cũ dưới thời Đinh (Hà Nam Ninh). Vào thời Tiền Lê, dấu vết để lại hiện chỉ mới thấy một chiếc cột đá lớn ở chùa Nhất Trụ (Trường Yên). Với chiếc cột này, người ta nghĩ tới sự dung hợp giữa đạo Phật và Bà La Môn giáo — một thực tế chứng minh cho ý thức muốn quay trở về với cội nguồn Đông Nam Á của dân tộc ta ở buổi đương thời.

Tất nhiên, dưới thời Đinh – Lê, với kinh đô ở vùng Trường Yên, kiến trúc vẫn biểu hiện nhiều mặt non yếu của những triều đại trứng nước chưa thoát khỏi nhiều yếu tố của thủ lĩnh quân sự. Các triều đại này chưa sử dụng được triệt để mặt tích cực của Phật giáo, khiến các chùa trong nước chủ yếu được dựng theo hình thức tự phát, không quy thuộc về một mối.

Kiến trúc chùa thời Lý: Sự phân cấp và những Đại danh lam vĩ đại

Từ thời Lý, đạo Phật được phát triển rầm rộ. Nhà nước được ra đời và củng cố bởi trí thức Phật giáo, phần nào tập hợp được lực lượng toàn dân. Thời Lý đã phân chùa ra làm ba loại: Đại danh lam, Trung danh lam, và Tiểu danh lam. Những chùa được xếp vào ba loại này đều được sự bảo trợ của nhà nước dưới hình thức được cấp ruộng đất và canh phu. Cho tới nay, những dấu vết của chùa thời Lý để lại có thể xếp vào mấy dạng như sau:

1. Đại danh lam kiêm hành cung

Bao gồm các chùa Phật Tích, Vĩnh Phúc, Lãm Sơn (đều thuộc Hà Bắc), Long Đọi, Chương Sơn (đều thuộc Nam Hà), Tường Long (Hải Phòng)… Thông thường, các ngôi chùa này được dựng trên đỉnh một đồi thấp với một cấp nền, hoặc lưng chừng một quả đồi cao thường với ba hoặc bốn cấp nền. Các đồi này bao giờ cũng gần sông. Một con ngòi lớn được đào thẳng từ sông vào chân đồi để thuyền vua có thể lui tới một cách thuận lợi. Từ bến nước có đường rộng, bạt thoai thoải lên chùa.

Trung tâm cảnh chùa là Phật điện. Bao quanh Phật điện (hai bên và phía sau) là các nhà tăng, thư tàng, nơi vua ngự và các nhà liên quan khác. Cho tới nay, Phật điện được nghĩ tới có hai dạng khác nhau, đó là dạng “tháp” và dạng “nhà”. Dù trong dạng nào thì Phật điện cũng chỉ là một kiến trúc không chiếm một diện tích lớn, bởi ở thời Lý, trong Phật điện chưa có nhiều tượng. Thông thường, tùy theo từng chùa mà người ta đặt một pho tượng lớn của Phật hay Bồ Tát nào đó ngồi trên một bệ đài sen tương ứng. Như vậy, trong cách thờ, ít nhiều kiểu thức chung của các cư dân Đông Nam Á vẫn còn chi phối tới Phật điện của người Việt. Quay trở lại ngôi Phật điện, trong trường hợp dạng nhà, chúng ta có thể ước đoán đó là một kiến trúc đặt trên nền cao, một tầng, có dạng gần như vuông.

Còn trường hợp “tháp”? Rõ ràng thời này tháp là ngôi thượng điện, chưa được coi trọng như một kiến trúc phụ mà chính là điện thờ Phật hoặc Bồ Tát. Bằng vào những cứ liệu lịch sử và kết quả khảo sát thực địa, chúng ta có thể nghĩ tới có vài dạng tháp khác nhau:

  • Tháp Long Đọi: Cao 13 tầng, là một tháp Phật, lòng tháp đặt tượng Như Lai Đa Bảo (vị Phật mà sự tích nói rằng chỉ nghe tên Người là thiện nam tín nữ đều khỏi lòng thiện). Tháp này xây vuông, ít nhiều chịu ảnh hưởng về hình thức tháp nhiều tầng của Trung Hoa.
  • Tháp Đại Thắng Tư Thiên (Báo Thiên, Hà Nội): Với 12 tầng, mang tư chất như một đài chiến thắng trước khi được sử dụng làm một kiến trúc trong cảnh chùa. Về hình thức, dáng dấp tương tự như tháp Long Đọi. Cao nhất có thể tới gần 100 mét, với đồi cao hơn 70 mét thì so với mặt ruộng tháp cao tới gần 200 mét.
  • Tháp Chương Sơn, Tường Long, và có thể cả Phật Tích: Những tháp này chỉ còn dấu vết nền móng (móng tháp Chương Sơn vuông, cạnh khoảng 19m). Do quan niệm các cây tháp của người Việt là một hình thức biến tướng của tháp Trung Hoa, nên các học giả Pháp đã cho rằng chiều cao của tháp thường gấp từ 2,5 lần tới xấp xỉ 5 lần chân tháp. Như vậy, tháp Chương Sơn đặt trên đỉnh một quả đồi, giữa đồng bằng huyện Ý Yên, đã phải cao ít nhất xấp xỉ 45m. Nếu đúng như vậy thì tháp đã trở thành một trong những kiến trúc khá vĩ đại, về hình thức không tránh khỏi tính chất áp chế. Đó là điều khó chấp nhận được trong thực tế ở nước ta (xét về bối cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế, nhân lực, tâm lý…). Mặt khác, với một ngôi tháp đá to lớn như vậy đặt ở đỉnh núi đất, việc gia cố nền móng đòi hỏi phải được đặt lên hàng đầu. Tháp Chương Sơn đã tồn tại tới ngày giặc phương Bắc tàn phá, nhưng không để lại một dấu ấn sâu sắc nào dưới mắt các thiền gia và nho gia thời Trần, mặc dù tháp chỉ cách một trung tâm mỹ thuật thời Trần (Thiên Trường, Nam Định) khoảng 20 km. Như vậy, khó có thể tin được tháp có một độ cao như giả thuyết của người Pháp trước đây.

Hiện nay, chúng ta nhận thấy tinh thần tự chủ tự cường của dân tộc dưới thời Lý mặt nào được đặt vào sự trở về với cội nguồn Đông Nam Á, ý thức “giải Hoa” cũng được biểu lộ khá rõ, nhất là mặt mỹ thuật. Chính điều đó gợi ý cho chúng ta nghĩ tới những ngôi tháp mang tính chất Phật đường này: một ngôi tháp đá, hay đúng hơn là một ngôi “nhà”, có thể mang dáng dấp các tháp phương Nam, hay kế thừa các bảo sát của thiên niên kỷ trước.

2. Đại danh lam không kiêm hành cung

Theo sử sách thì loại kiến trúc này khá nhiều, nhưng tới nay dấu vết chỉ còn lại ở một vài nơi như chùa Bà Tấm (Gia Lâm, Hà Nội), chùa Hương Lãng (Văn Mỹ, Hải Hưng). Kiến trúc này chiếm một mặt bằng khá lớn (ngang khoảng 60m, dọc gần 100m) được dựng trên mặt đất bình thường. Từ cửa vào tới Phật điện thường qua hai cấp nền. Phật đường nằm sâu ở phía trong, là một tòa nhà trung tâm, hình thức gần như vuông, không lớn lắm. Trong Phật đường thường chỉ có một bệ đá lớn làm nơi ngồi của Phật. Về bố cục, dạng này gần tương tự như ngôi chùa kiêm hành cung, sự khác nhau chủ yếu ở chỗ địa thế mặt bằng và ở các đề tài điêu khắc trang trí kèm theo mà thôi.

3. Chùa của Đại sư và của dân

Chắc chắn ở đương thời loại chùa này khá nhiều, song do chất liệu xây dựng không bền vững mà nay không còn nữa. Tuy nhiên, dựa vào các hiện vật còn lại, chúng ta có thể nhận ra được đôi điều. Với chùa Diên Phúc, chùa Thầy (Hà Tây) và chùa Chèo (Hà Bắc), mỗi nơi còn để lại một số đá tảng chân cột loại trung bình (vuông với cạnh = 70cm). Đó là một chứng tích khẳng định về loại kiến trúc dân dã này. Đây là một ngôi nhà gỗ dựng trên nền cao, kết cấu mặt bằng gần như vuông, mỗi cạnh xấp xỉ hơn kém 10 mét chút ít, kiến trúc không có tường bao. Trong lòng nhà có thể có một tượng Phật (chùa Thầy, chùa Kim Hoàng, chùa Chèo, mỗi nơi còn một bệ Phật). Hình thức ngôi chùa đơn giản, nhỏ, nhưng được dựng ở một địa thế bằng phẳng, rộng rãi, đủ sức làm nơi hội tụ của các Phật tử trong vùng. Những kiến trúc này có khi được gọi là am (Hương Hải am chính là tiền thân chùa Thầy) — nơi các nhà sư thường giảng đạo.

Ngôi chùa thời Trần: Tinh thần nhập thế và sự dịch chuyển điện thờ

Vào thời Trần (thế kỷ XIII – XIV), đạo Phật ở nước ta vẫn tiếp tục phát triển. Các Phật phái dưới thời Lý lu mờ đi để cho một thiền phái mới nổi dần lên. Những thiền gia nổi tiếng của thiền môn mới này tập trung vào tầng lớp trên, mở đầu là Thái Tông, vua đầu của triều Trần. Ông đã bỏ cung “trốn” vào Yên Tử để tìm Phật, được Phù Vân quốc sư chỉ rõ “Phật ở nơi tâm…”. Về triều, Trần Thái Tông chuyên tâm tới kinh Kim Cương, hiểu lẽ thâm huyền của Lý Chân Không, Lý Vô Tướng, chủ trương lấy giác làm trọng.

Cũng vào đầu thời Trần, một nhân vật khác nổi lên là Tuệ Trung Thượng sĩ. Ông cũng đề cao sự giác ngộ, chú trọng “kiến tính” (thấy được cái bản tính chân thực của mình, đó là Phật tính). Ở ông, một tính chất nổi lên rõ rệt là vô chấp (không nên thuộc vào bất kỳ một điều kiện, sự việc nào của hình, danh, sắc, tướng), không phân biệt ngã nhân với tha nhân, với ông thì “Niết bàn vô trụ xứ”.

Những người mở đầu cho Phật phái thời Trần đã đề cao tính chất “phóng khoáng” của Thiền và ít nhiều kết hợp với tư tưởng Lão Trang để đưa Phật giáo nước ta bước vào một hướng mới. Kế tục Tuệ Trung là vua Trần Nhân Tông — tổ thứ nhất thiền phái Trúc Lâm. Sau Nhân Tông là Đại sư Pháp Loa (tổ thứ hai) rồi Tôn giả Huyền Quang (tổ thứ ba). Dưới thời Nhân Tông và Anh Tông, phái Trúc Lâm phát triển khá mạnh, đã quản lĩnh số sách tăng đồ trong nước, định tăng chức, đặt chùa tháp và ba năm một lần độ tăng. Đó là một cách để thống nhất tôn giáo.

Cùng với sự đề cao Phật giáo, phái này đã cản trở sự phát triển tín ngưỡng dân gian. Chính Nhân Tông đã đi du hóa và cho hủy phá đền thờ “quỷ thần không được chính đáng”. Mật tông cũng một thời giảm đi, chỉ tới Pháp Loa (đời Anh Tông), Mật tông mới phát triển trở lại. Theo sử sách, với Huyền Quang, tính chất Mật tông đã ảnh hưởng trực tiếp tới kiến trúc nghệ thuật, như ông đã cho dựng Cửu Phẩm Liên Hoa (Cối Kinh) — một loại tháp quay có gốc từ Mật giáo Tây Tạng, song rất tiếc tháp đó nay không còn.

Tình hình trên cho thấy ở giai đoạn đầu, các ngôi chùa thường được tập trung dưới sự chỉ đạo của Nhà nước, được sự bảo hộ của chính quyền. Và với tư tưởng Thiền đề cao vô chấp, các ngôi chùa có lẽ hầu như chỉ là nơi tụ hội của các tăng nhân, Phật tử để đàm đạo Phật pháp. Bởi mang tính chất như vậy nên tăng đồ có thể chú ý nhiều tới kiến trúc tâm linh, tới bản thể chân tâm, tư tưởng nặng về xuất thế gian. Đó là một trong nhiều giả thuyết để giải thích vì sao tượng Phật thời Trần tới nay chưa tìm được một pho nào, và chùa thời Trần cũng ít quy mô.

Thực ra, theo lịch sử thì Trần Thái Tông đã sức cho dân các nơi phải thờ Phật trong các ngôi đình quán, song các đình quán này tới nay cũng không còn. Dấu vết để lại được tập trung vào các di tích của triều đình (có niên đại khoảng nửa cuối thế kỷ XIII và đầu thế kỷ XIV) và một số chùa làng ở cuối thế kỷ XIV. Chúng ta có thể nghĩ tới các ngôi chùa điển hình của triều đình như Phổ Minh và Yên Tử, một ở đồng bằng và một xây theo triền núi. Đặc điểm chủ yếu của các kiến trúc này là chứa đựng nhiều tính chất tu hành, không mang tính chất hành cung. Trong bố cục mặt bằng, ngôi tháp với hình thức nhiều tầng, tuy vẫn là một kiến trúc chính của chùa, nhưng đã được đẩy ra phía trước, Phật đường đã chuyển vào một ngôi nhà khác ở phía sau tháp. Lòng tháp là tượng một vị Phật Bích Chi nội địa.

Các chùa làng ở cuối thế kỷ XIV chỉ là một kiến trúc nhỏ, mang sự kế thừa của chùa làng thời Lý. Chùa được dựng trên một nền cao gần như vuông (cạnh dài trên dưới 10 mét chút ít). Những ngôi chùa như Thái Lạc (Hải Hưng), Bối Khê (Hà Tây) là những điển hình. Ngôi chùa cổ đó thực chất chỉ là tòa thượng điện của chùa hiện nay, với bốn cột cái lớn, vì kèo kết cấu theo kiểu giá chiêng giữa lồng ván lá đề. Lòng các tòa chùa không hề thấy dấu vết của tượng Phật (kể cả bệ tượng). Cho nên, chúng ta dễ nghĩ tới các ngôi chùa này đã thờ tranh Phật hay chữ Phật lớn, theo cách thờ còn tồn tại trong dân gian hay trong dân tộc ít người.

Nhiều chùa còn để lại một nhang án bằng đá khá lớn (chữ ghi sau nhang án đá chùa Bối Khê là “Thạch bàn”). Nhang án này hình chữ nhật với chiều dài có khi hơn 3 mét, chiều rộng hơn 1 mét, phần trên là một đài sen chạm nổi, thân bàn ở bốn góc có thần điểu (Garuda), mặt thân phía trước và hai bên chạm rồng và hoa. Đế thường giật cấp hoặc khum lợi chậu với các hình chạm hoa cúc trong khung vuông hay cánh sen dẹo úp. Những ngôi chùa có bàn thờ đá hoa sen hình hộp thường ở các làng ven triền sông Đáy hoặc các chi lưu của sông này. Điều đó khiến chúng ta dễ ngờ vực rằng chúng là sản phẩm của hiệp thợ đá có truyền thống ở vùng Ba Thá (Ứng Hòa – Hà Tây).

Thời Lê Sơ và sự phục hưng mạnh mẽ dưới thời Mạc

Sang thời Lê Sơ (thế kỷ XV), Phật giáo bị chính quyền hạn chế, ngôi chùa không có điều kiện phát triển. Trước đó, trong cuộc chiến tranh xâm lược, giặc Minh đã tàn phá khá nhiều chùa ở nước ta. Đến thời này, tầng lớp địa chủ mới nắm ngọn cờ dân tộc, thực hiện cuộc chiến tranh giải phóng thắng lợi, đã lấy Nho giáo làm hệ tư tưởng chính thống. Vì thế, Phật giáo về cơ bản bị đẩy lùi về nơi thôn dã. Trên thực tế, chúng ta tìm được rất ít dấu vết cụ thể liên quan đến ngôi chùa ở thời Lê Sơ (hiện mới thấy được một vài tấm bia như ở chùa Kim Liên – Hà Nội; chùa Cao – Quốc Oai, Hà Tây; chùa Phúc Thăng – Thạch Thất, Hà Tây…). Những chùa làng không để lại một chữ nào của đương thời để minh chứng, nên chúng ta chỉ có thể thông qua tạo hình để nhận thấy chúng vẫn được tiếp tục xây dựng, tuy rất ít ỏi, có thể kể đến một số chùa ở hữu ngạn sông Đáy thuộc huyện Ứng Hòa, Hà Tây.

Việt Nam và Trung Hoa là hai nước, về cơ bản, khác hẳn nhau về nền tảng xã hội. Người Trung Hoa đã từ bỏ chế độ công xã nông thôn từ thời Thương – Chu; còn người Việt thì duy trì chế độ đó muộn hơn tới hàng thiên niên kỷ. Ruộng công của người Việt tuy ít dần nhưng vẫn còn cho tới tận thế kỷ XX. Chỉ riêng điểm đó thôi đã cho thấy hai dân tộc có hai hoàn cảnh khác nhau. Cho nên, đem hệ tư tưởng Nho giáo đã nhuốm đầy tính tiêu cực ở chính quê hương của nó để làm cơ sở tinh thần cho xã hội Việt thì khó có thể phù hợp được. Vì thế mà dưới sự hỗ trợ đắc lực của triều đình, Nho giáo chỉ đạt tới đỉnh cao ở thời Lê Thánh Tông, rồi sau đó bị phai tàn ngay.

Sự “thoán nghịch” của nhà Mạc (thế kỷ XVI) đã mở đầu cho giai đoạn mới. Trên bình diện mỹ thuật, đó là thời kỳ khởi đầu của nền nghệ thuật dân gian phát triển. Sự vươn lên của nền kinh tế, với tư tưởng được cởi mở hơn, khiến cho các tôn giáo, tín ngưỡng có điều kiện phục hồi và phát triển. Ngôi chùa cũng như các kiến trúc khác của đương thời đã nảy nở mạnh theo các triền sông giao thông chính như sông Đáy, sông Hồng, sông Cầu, sông Thái Bình, sông Kinh Thầy… cùng các chi lưu.

Những ngôi chùa nổi tiếng như chùa Cói, chùa Thượng Trưng, chùa Hội Hạ (cùng thuộc Vĩnh Phú), chùa Hương Trai, khu chùa Thầy và Bối Khê (Hà Tây), nhiều chùa thuộc hệ thống Tứ pháp ở khu vực Dâu (Hà Bắc), chùa Ninh Hiệp, chùa Đa Tốn (Hà Nội), chùa Mễ Sở, chùa Động Ngọ, Côn Sơn và nhiều chùa khác (Hải Hưng), chùa Phổ Minh (Nam Định), chùa Trà Phương (Hải Phòng) cùng nhiều chùa ở hải đảo như chùa An Đông (Quảng Yên) và rồi cả chùa Ngang tận Nghệ Tĩnh… tất cả đều được quan tâm làm mới hoặc tu bổ với nhiều dấu ấn để lại.

Về cách thức xây dựng chùa thời Mạc, về cơ bản còn giống như kết cấu chùa làng ở nửa cuối thế kỷ XIV. Song, một điều đáng quan tâm nữa là ở các pho tượng. Trước hết, có thể nói đây là các tượng gỗ sớm nhất còn lại tới nay ở nước ta. Vai trò của các tượng này càng có ý nghĩa khi chúng ta mới chỉ nhận thấy chắc chắn trước chúng có hai pho tượng Phật bằng đá của thời Lý (Phật Tích và Chương Sơn) mà thôi. Một đặc điểm nữa ở thời này là sự xuất hiện nhiều loại tượng. Ta có thể kể được tới các bộ tượng Tam thế (chùa Trà Phương, chùa Ninh Hiệp, chùa Lệ Mật, chùa Thầy…), tượng Thích Ca sơ sinh (chùa Đông Dương – Hải Hưng), nhất là tượng Quan Âm (chùa Thượng Trưng, Hội Hạ, Đa Tốn, Ngô Sơn, Động Ngọ, Phổ Minh… kể ra còn nhiều), rồi tượng Tứ pháp được Phật hóa (chùa Thái Lạc – Hải Hưng)…

Nói thì dễ, nhưng khi đặt nhát đục đầu tiên để tạo nên những pho tượng này, người nghệ nhân xưa đã thổi vào đó cái hồn của đời thực. Với các tượng như kể trên, Phật điện từ thời Mạc đã trở nên đông vui hơn, đồng thời mang ý thức bình dân hơn. Với cách thức thờ theo lối “thế gian” (thế gian trụ trì Phật pháp — cách thờ Phật phải có hình mẫu cụ thể để Phật tử hướng vào, từ đó mà khởi tâm lành, lòng thiện và tin theo), ít quan tâm đến “xuất thế gian”, nên Phật tử chú ý nhiều tới cầu tha lực của Phật cùng Bồ Tát. Đương nhiên, sự xuất hiện nhiều tượng Quan Âm Nam Hải khiến chúng ta còn nghĩ tới sự phát triển của thương thuyền với vai trò của tầng lớp thương nhân đã đạt được một mức độ đáng kể nào đó ở đương thời. Chùa làng thời này vẫn còn là một trung tâm văn hóa của làng xã.

Thế kỷ XVII – XVIII: Quy mô thâm nghiêm và những biến động thời cuộc

Tới thế kỷ XVII, sự sùng bái đạo Phật không bị cấm đoán, ở đầu thế kỷ các ngôi chùa vẫn được duy trì và phát triển có vẻ bình thường. Nhưng kể từ những năm 30 trở đi (dưới đời Trịnh Tráng), biến cố chiến tranh Nam – Bắc triều (Lê – Mạc) vừa chấm dứt được ít lâu thì bọn thống trị lại đẩy dân tộc vào cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn. Sự sa đọa và những hành động tiêu cực của tầng lớp vua quan đã đưa Nho giáo ở nước ta vào tình trạng khủng hoảng chưa từng thấy. Đó là điều kiện để cửa chùa cần được “mở rộng”. Phật pháp đương thời đã như một cứu cánh cho hệ tư tưởng xã hội. Nhiều người ở tầng lớp trên cũng “núp bóng” Phật đài. Giai đoạn này là thời cơ để các tông phái Lâm Tế và Tào Động với nhiều nhà sư Trung Hoa du nhập mạnh hơn vào nước ta.

Tình hình như nêu trên, tất nhiên ngôi chùa được quan tâm hơn. Ở trong Nam, dưới sự ủng hộ của chúa Nguyễn, nhiều ngôi chùa lớn được dựng như Thiên Mụ ở Huế, Sùng Hóa ở Phú Vang, Bảo Châu ở Trà Kiệu, Kinh Thiên ở Thuận Trạch, Chúc Thánh ở Quảng Nam, Hội Tông ở Phú Yên, và nhiều chùa khác nữa… Rất tiếc rằng tới nay các chùa trên không còn để lại được dấu vết gì của thời khởi dựng.

Trên đất Bắc, sự tham gia của tầng lớp trên (thường thông qua các bà hoàng, công chúa, quận công…) đã tạo cho nhiều ngôi chùa một quy mô mới, khang trang, rộng rãi với nhiều tòa ngang dãy dọc. Người ta dựng mới và nhất là quan tâm tới các ngôi chùa đã nổi tiếng. Sự to lớn ấy có thể được dẫn chứng bằng câu: “Mười tám đóng cửa chùa Giạm”, có nghĩa là từ tiếng thu không (chuông chùa sẩm tối) tới lúc trăng mọc ngày 18 mới đóng xong cửa. Mở đầu cho ngôi chùa quy mô là chùa Quỳnh Lâm, Thầy, Bút Tháp, Giạm, Phật Tích, Keo Thái Bình, Keo Nam Định và một số chùa khác nữa.

Cái hay của thớ gỗ này là khi được kết hợp với bàn tay khéo léo của người thợ, nó tạo nên sự thâm nghiêm hóa bộ phận chủ yếu của ngôi chùa. Sự tham gia của tầng lớp trên vào ngôi chùa và nhiều di tích khác đã dẫn đến hiện tượng này. Như ở chùa Thầy, tại tòa điện thánh, người ta bao kín xung quanh bằng hệ thống ván đố, khiến lòng nhà rất tối. Và ở đây không có một hình chạm trang trí “thông thường” nào, mặc dù mặt ngoài chạm khá nhiều hình rồng, phượng, hoa cách điệu… Đó là một trong những hậu cung sớm nhất ở nước ta.

Đương nhiên, với sự mở rộng quy mô của chùa thì tượng trong chùa cũng được làm với nhiều loại hơn. Ngoài những loại tượng như ở thời Mạc, bộ Di Đà Tam tôn đã xuất hiện (chùa Thầy), rồi tượng các Bồ Tát Văn Thù, Phổ Hiền, Tuyết Sơn, tượng sư tổ, tượng hậu Phật (chùa Bút Tháp – Hà Bắc; chùa Mật – Thanh Hóa…). Phật điện đã đông dần lên. Vào cuối thế kỷ XVII, với sự phát triển đến đỉnh cao của nghệ thuật đình làng thì vai trò của ngôi chùa có lu mờ đi chút ít, nhưng ở nhiều ngôi chùa của dân cũng đã được đưa vào một vài yếu tố mới, như tháp quay (chùa Phẩm, chùa Động Ngọ – Hải Hưng; chùa Phú Mấn đã mất thuộc Hà Bắc). Rồi chùa đã xuất hiện hình thức trang trí mang yếu tố dân gian tương tự như ở đình (chùa Chúc – Văn Điển, Hà Nội)…

Trong thế kỷ XVIII, kinh tế tập thể của làng xã suy giảm, ruộng tư phát triển mạnh, dẫn đến nạn người cày không có ruộng, hàng chục vạn nông dân phải lưu vong. Tình trạng đói khổ gây thành cuộc chiến tranh nông dân triền miên. Trong khi đó, tầng lớp quan liêu và địa chủ cũng sa đọa cùng cực, chỉ lo vơ vét. Tình hình này khiến cho bước đi của ngôi chùa Việt gặp trở ngại lớn. Với sự bảo trợ của một số người có hảo tâm, một vài ngôi chùa được tạc thêm tượng Tuyết Sơn (chùa Keo – Thái Bình, chùa Miễu – Hải Hưng) hay tượng Kim Cương (chùa Mía – Hà Nội)…

Chỉ tới cuối thế kỷ, với vương triều Tây Sơn, xã hội trở nên ổn định hơn thì ngôi chùa cũng dần dần bước vào sự phát triển bình thường. Lúc này, tầng lớp trí thức đã mất lòng tin một cách sâu sắc với hệ tư tưởng Nho giáo. Nhiều người đã quay trở về với Phật giáo (Ngô Thì Nhậm tự nhận là tổ thứ tư của thiền phái Trúc Lâm, người em rể của ông là Phan Huy Ích cũng rất sùng Phật pháp). Trong tình hình như vậy, dưới thời Tây Sơn, với sự tham gia ít nhiều của tầng lớp trí thức tân triều, đã để lại cho chúng ta hai ngôi chùa điển hình là Kim Liên và Tây Phương (đều thuộc Hà Nội).

Đặc điểm nổi bật của các chùa này là kết quả của sự dung hòa giữa hai hệ thống tư tưởng Phật và Nho. Chúng ta như nhìn thấy ba tòa nhà song hàng của chùa là tượng trưng cho Tam tài, và riêng từng tòa nhà đã như chứa đựng ở đó những nguyên lý của Dịch học. Đồng thời, ở chùa Tây Phương đã có một hệ thống tượng Phật giáo đầy đủ và đẹp nhất trong các chùa Việt. Chùa Tây Phương and Kim Liên đã như một thể nghiệm trên bước đi của ngôi chùa và chúng là một hợp thể sóng đôi để biểu hiện về một ý nghĩa sâu xa của Phật pháp.

Thế kỷ XIX – XX: Sự nâng đỡ của triều Nguyễn và phong trào chấn hưng

Sang thế kỷ XIX, dưới triều Nguyễn, về mặt tinh thần ít nhiều đạo Phật được triều đình nâng đỡ. Các chúa Nguyễn tin sùng đạo Phật, muốn dựa vào đạo Phật để củng cố chính quyền. Thời vua Gia Long phần nào đề cao Nho nên hạn chế Phật, nhưng thời Minh Mệnh thì đạo Phật được ủng hộ. Đồng thời, chính sách buổi đầu nhà Nguyễn vẫn chưa tỏ ra khắt khe lắm. Cho nên đình chùa khoảng đầu thế kỷ đã được làm lại khá khang trang, nhất là các chốn tổ (nơi tụ hội các nhà sư trong dịp kiết hạ). Điển hình có thể kể tới chùa Đức La (chốn tổ gốc của Thiền phái Trúc Lâm, ở Yên Dũng, Hà Bắc), chùa Bổ (nay đã sửa lại gần như hoàn toàn, ở Việt Yên, Hà Bắc), chùa Thiên Mụ (Huế) và nhiều chùa khác nữa.

Ngoài một số chùa được sự bảo trợ của triều đình, đa số chùa khác được làm lại với sự đóng góp của dân, dưới sự chủ trì của một số tổ chức nào đó trong làng hay do một người có chức vị, hoặc do chính nhà sư trụ trì cảnh chùa. Khoảng từ giữa thế kỷ, nền kinh tế tư nhân phát triển mạnh hơn, tầng lớp thương nhân quyên cúng nhiều cho chùa, với ý nghĩa như một khoản ước. Các nhà sư vì thế có kinh phí mở rộng chùa và tạc tượng. Từ đây, tượng trong các chùa đầy đủ dần, rồi đôi khi có cả tượng theo tích riêng của từng nơi (chùa Hòe Nhai – Hà Nội).

Tình hình như nêu trên cùng sự khủng hoảng lòng tin vào hệ tư tưởng chính thống của xã hội, từ nửa cuối thế kỷ, đã thúc đẩy cho tín ngưỡng dân gian và mê tín dị đoan có điều kiện phát triển mạnh hơn. Cửa chùa không chỉ là chốn tu tâm, mà còn là nơi “đồng cô bóng cậu”. Nhà sư đôi khi vì lợi đã mải mê việc thánh hơn việc phật. Rồi ngay trong cảnh chùa, điện mẫu cũng được phát triển, trở thành nơi cúng bái “ngầm vật” dưới bóng áo cà sa. Phật và thánh được nhập lại để trở thành một tập thể thần linh đem tha lực cứu vớt con người theo cách “tốt lễ dễ kêu”, điển hình như ở chùa Kim Liên (Hà Nội).

Vào những năm 30 của thế kỷ XX, một phong trào chấn hưng Phật giáo trong xã hội Việt được khêu dậy. Tất nhiên xu thế của thời đại không khỏi va vấp vào vấn đề chính trị, song phong trào này đã góp được một phần vào việc làm trong sạch dần Phật điện.

Giá trị lịch sử và văn hóa của ngôi chùa Việt

Ngôi chùa Việt đã có bước đi riêng của nó. Là một loại di tích có mặt hầu hết trong các giai đoạn lịch sử của 2.000 năm nay, nó là đối tượng số một của ngành nghiên cứu mỹ thuật cổ. Với mỗi ngôi chùa, ít nhiều chúng ta có thể đọc lên được sự thăng trầm của một số sự kiện lịch sử, qua đó góp phần nhìn nhận chân xác hơn về nhiều vấn đề của lịch sử văn hóa dân tộc. Cửa chùa trong quá khứ đã đóng góp vào sự cân bằng cho xã hội và cho mỗi người Việt chúng ta.