Cách làm tranh sơn mài truyền thống chuẩn bài bản từ nhà xưởng

Nhiều người thường ngắm nhìn một bức tranh sơn mài hoàn thiện rồi thắc mắc không biết người thợ đã đặt những nét vẽ, mảng màu lên đó bằng cách nào. Thực chất, muốn dựng nên một bức vẽ hoàn chỉnh theo đúng bài bản của cha ông, ta phải đi qua những công đoạn cực kỳ nghiêm ngặt và tỉ mỉ. Cái gốc của phương pháp thể hiện một tác phẩm sơn mài không đơn giản là cầm cọ quẹt màu lên vóc, mà là cả một chuỗi kỹ thuật kết hợp giữa vẽ nét, định mảng, ủ ẩm và mài nước xưởng sơn.

Khâu chuẩn bị phác thảo và can hình lên tấm vóc

Nói thì dễ nhưng khi bắt tay vào làm mới thấy độ lỉnh kỉnh của đồ nghề. Muốn khởi sự, trước hết người họa sĩ phải làm một bức phác thảo bằng bột màu (gu-a-xơ) trên giấy phẳng. Đi kèm với bản phác thảo đó là một bản vẽ chi tiết bằng đường nét, định vị hình họa trong tác phẩm được can sẵn trên tờ giấy can (tức là loại giấy bóng mờ). Khi công đoạn này hoàn thành, người thợ tiến hành đưa hình lên vóc theo các bước:

  1. Đặt bản vẽ giấy can cho thật cân đối lên tấm vóc. Dùng kẹp giấy hoặc lấy nhiều hòn đá, miếng sắt nặng đè chặt để giữ cố định giấy can xuống mặt vóc, không cho xê dịch.
  2. Lấy một tờ giấy mỏng (loại giấy pơ-luỵp dùng đánh máy) xát bột trắng ti-tan đều vào một mặt để tạo thành một tờ giấy phấn tự chế.
  3. Lót tờ giấy phấn này ngay dưới bản vẽ giấy can, lưu ý đặt mặt có xát phấn ti-tan áp giáp lên mặt sơn của tấm vóc.
  4. Dùng một cây bút chì cứng, hoặc một đầu bút đanh sắc, hay một cây tre vót nhọn để tô lướt theo các đường nét vẽ trên tờ giấy can. Nhờ lực ấn mạnh từ đầu bút, nét phấn trắng từ tờ giấy phấn bên dưới sẽ in hằn xuống mặt sơn vóc, tạo thành một bức vẽ nét trắng tinh khôi hiện rõ trên nền đen mờ của tấm vóc.

Nguyên tắc cốt lõi và thứ tự tô màu trong nhà xưởng

Người trong nghề chúng tôi luôn tuân thủ một nguyên tắc chung khi hạ bút: phải tô sơn vẽ các chi tiết của hình trước, tiếp đến tô các mảng màu rồi cuối cùng mới quét trùm phần nền phông sau cùng. Để anh em dễ hình dung, hãy lấy một thí dụ điển hình: Trong một bức tranh phong cảnh nông thôn có nhà tranh, bụi tre, và người nông dân đang gánh lúa về quê:

  • Bước vẽ chi tiết đầu: Khi vẽ bụi tre, ta bắt buộc phải vẽ tỉa từng chiếc lá tre, từng thớ thân cây trước. Chờ đến hôm sau khi nước sơn đã khô ráo, ta mới tiến hành tô bao cả mảng bụi tre đó. Tương tự, khi vẽ hình người gánh lúa, ta tô nét hình người, diện mạo mặt mũi, các nếp quần áo và các chi tiết quang gánh rõ nét, tả rõ từng bó lúa.
  • Bước vào mảng màu: Khi lớp sơn nét cũ đã khô kỹ rồi, người thợ mới tiến hành tô mảng cho mặt, chân tay, quần áo và phủ lên cả gánh lúa.
  • Quét phông nền: Vẽ xong xuôi các phần mảng của khóm tre, hình người và các gánh lúa, ta mới bắt đầu quét đến nền phông trời đất xung quanh. Lúc này, người thợ có thể quét tràn nước sơn lên cả bụi tre và cả hình người. Chớ có lo lắng, vì sau khi sơn khô dính, ta đem tranh ra mài phẳng mặt bằng nước, các chi tiết được vẽ ban đầu sẽ tự động hiện rõ dần từ dưới lòng sơn.

Cái ngặt của nghề này là ở chỗ đó. Nếu anh em làm ngược quy trình — tức là vẽ chi tiết đè lên mảng màu được vẽ trước, thì đến lúc đem mài, các nét chi tiết nằm bên trên sẽ bị mòn cụt đi trước. Kết quả là khi mảng màu hiện ra đầy đủ thì các nét chi tiết tinh xảo cũng bị mài mòn biến sạch, bức tranh coi như hỏng hoàn toàn.

Bảng nghiên màu thể hiện lối gián tiếp chốn nhà xưởng

Khi tô mảng màu, ta phải nhìn kỹ vào bản phác thảo bột màu để chọn lựa xem nên áp dụng màu sắc theo lối trực tiếp hay gián tiếp cho hòa hợp, cốt sao để màu nọ tôn đẹp cho màu kia. Riêng về lối gián tiếp (tức là phải trông qua một lớp sơn phủ khác mới lên màu sắc mong muốn), các cụ xưa đã truyền lại một bảng mẫu nghiên màu rất đa dạng:

STT Công thức phối trộn và phủ lớp cốt sơn gián tiếp
1 Cánh gián pha ti-tan, phủ phẩm cánh quế
2 Thếp bạc quỳ nhuộm phẩm cánh quế, phủ cánh gián
3 Thếp vàng quỳ nhuộm phẩm cánh quế, phủ cánh gián
4 Thếp bạc quỳ, phủ cánh gián
5 Cánh gián pha ti-tan, phủ phẩm hồ thủy
6 Thếp bạc quỳ nhuộm hồ thủy, phủ cánh gián
7 Thếp vàng quỳ, nhuộm phẩm hồ thủy, phủ cánh gián
8 Thếp vàng quỳ, phủ cánh gián
9 Cánh gián pha ngân châu, phủ cánh gián
10 Thếp bạc vụn nhuộm phẩm cánh quế, phủ cánh gián
11 Thếp bạc vụn nhuộm phẩm hồ thủy, phủ cánh gián
12 Thếp thiếc phủ cánh gián
13 Cánh gián pha son trai, phủ cánh gián
14 Cánh gián pha ti-tan phẩm cánh quế, phủ cánh gián
15 Cánh gián pha ti-tan + phẩm hồ thủy, phủ cánh gián
16 Thếp bạc quỳ phủ cánh gián có pha đen

Bí quyết vờn sáng tối và kinh nghiệm mài bóng thành phẩm

Chỉ với một lượng sơn cánh gián cố định, tùy vào việc người thợ rắc ít hay nhiều bạc vụn vào mà tạo nên những sắc màu be chuyển từ đậm cho đến trắng bạc. Trên cái nền cơ sở này, khi tô màu ta có thể tiến hành vờn sáng tối cho hình khối bằng cách gia giảm, pha nhiều hay ít bột son tươi (hoặc các loại màu son khác như bột màu xanh, bột trắng ti-tan, bột vàng…) hoặc là lựa tay rắc nhiều hay ít bạc vụn.

Thêm một ví dụ nữa để anh em thấy cái ảo diệu của phương pháp thể hiện một tác phẩm sơn mài: khi thếp bạc lá hoặc bạc vụn xong, ta phủ lên một lớp sơn cánh gián. Lúc đem mài để lấy màu hoàn kim, nếu ta mài lớp cánh gián mỏng nhiều thì sắc hoàn kim sẽ sáng tươi, ngược lại nếu mài ít thì màu sẽ tối om. Trường hợp sơn cánh gián phủ được pha thêm phẩm cánh quế (phẩm đỏ) hoặc phẩm hồ thủy (phẩm xanh), khi mài ra sẽ cho ra màu ánh đỏ hoặc ánh xanh vô cùng độc đáo nhờ lớp bạc nằm ẩn dưới lớp cánh gián. Cách này cho ra sắc độ khác xa so với việc ta dùng sơn cánh gián pha trực tiếp với son tươi hay màu bột xanh.

Do cái đặc điểm ngặt nghèo của kỹ thuật pha màu, việc làm sơn mài không cho phép ta nhìn thấy ngay trước mắt những màu sắc thực tế như ý muốn. Khi màu mới pha và sơn còn ướt, ta coi thấy màu rất tươi, nhưng đến lúc sơn khô dính, màu sẽ xuống mặt và sắc độ sẫm đi rất nhiều. Cái này bắt buộc người thợ phải tự rút kinh nghiệm qua thời gian dài cọ xát thì mới chủ động điều khiển được các sắc độ theo ý mình.

Giai đoạn mài tranh bằng nước và đá màu

Sau khi đã tô hết nét và mảng màu của họa tiết, tùy thuộc vào màu sắc của nền phông trong phác thảo là nền đỏ hay nền xanh mà ta chọn phủ một nước sơn đen, sơn đỏ hay sơn xanh cho phù hợp. Sơn quang nền xong xuôi, ta đặt tranh vào trong buồng ủ ẩm cho sơn nhanh khô kỹ. Sau vài ngày nằm buồng ủ, ta đem tranh ra mài bằng đá màu, than xoan hoặc dùng giấy ráp nước kết hợp với nước sạch.

Mài cho hiện rõ màu sắc và từng nét vẽ ra là một giai đoạn tối quan trọng, đồng thời cũng mang lại nhiều cảm xúc thú vị nhất cho người làm nghề. Lúc mài lộ họa tiết cũng chính là lúc ta đang thể hiện màu sắc, đòi hỏi người thợ phải có óc sáng tạo và khiếu thẩm mỹ cao. Khi mài, các lớp sơn sẽ mòn mỏng dần đi. Nếu mài đến một độ mà bất chợt phát hiện ra màu sắc cùng hòa sắc đã lộ diện đủ đẹp, anh em phải biết điểm dừng để giữ lấy những khoảng ngẫu nhiên đầy giá trị đó. Tuyệt đối không được mài quá tay; nếu quá tay, nét vẽ sẽ bị mòn đứt, mảng màu bị thủng trơ cả nền đen của tấm vóc bên dưới, tranh bị hỏng thì cực kỳ khó chữa.

Đánh bóng và hiệu chỉnh sắc độ sau cùng

Khi các họa tiết đã lộ rõ đầy đủ, khâu mài nước coi như hoàn tất. Ta dùng bột than xoan mịn chấm bằng bông nõn (có thể cuốn thêm chút tóc rối vào trong cục bông), rồi tiến hành nùn, xoa đều liên tục lên tấm tranh để đánh bóng bề mặt như kỹ thuật đã nêu ở chương II.

Đánh bóng xong, người họa sĩ ngắm nghía lại toàn bộ tác phẩm xem có cần điều chỉnh chút ít về sắc độ sáng tối hay không. Lúc này, ta hoàn toàn có thể thếp bổ sung hoặc rắc thêm một ít vàng bạc vào những chỗ cần nhấn nhá. Thếp vàng bạc xong, chờ cho cốt sơn khô hẳn, nếu nhận thấy chỗ vàng mới dặm vào có sắc độ quá sáng, không ăn nhập vào toàn cảnh, ta có thể dùng một chút bông tẩm tí dầu hỏa cọ nhẹ cho mòn bớt lớp vàng mới thếp. Cách này sẽ làm dịu đi sắc độ, giúp mảng màu trở nên hài hòa tuyệt đối với bố cục chung của cả bức tranh.

Tóm lại, phương pháp trình bày ở đây mang tính chất cơ bản và chung nhất từ xưa để lại. Một khi đã nắm vững được các kỹ thuật nền tảng này, người họa sĩ sẽ tự mình nghiên cứu, tìm tòi và vận dụng linh hoạt để diễn tả những hòa sắc muôn hình vạn trạng trong hội họa, từ đó nâng tầm giá trị cho tác phẩm sơn mài Việt Nam.