Các đình Đền thờ danh nhân văn hóa Chu Văn An

Chu Văn An (còn gọi là Chu An), sau khi qua đời vào ngày 28 tháng 11 năm Canh Tuất (1370), đã được vua Trần Nghệ Tông truy tặng tên thụy là Văn Trình Công, đồng thời cho phép phối thờ tại Văn Miếu bên cạnh Thất thập nhị hiền. Bên cạnh đó, ông cũng được tôn làm Thành hoàng làng, phụng thờ ngay trên quê hương – nơi ông từng mở trường truyền thụ tri thức tại thôn Huỳnh Cung, cũng như tại nơi ông chọn cáo quan về ở ẩn là núi Phượng Sơn, xã Kiệt Đặc, huyện Chí Linh (hiện thuộc tỉnh Hải Dương).

Thân Thế, Sự Nghiệp Và Tấm Lòng Trung Hưng Của Danh Thầy

Chu Văn An nguyên quán tại thôn Văn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm (nay là xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội). Ông sinh ngày 25 tháng 8 năm Nhâm Thìn (1292) và mất năm Canh Tuất (1370), hưởng thọ 78 tuổi. Mặc dù đỗ Thái học sinh, ông không bước vào con đường quan lộ ngay mà lựa chọn trở về quê nhà lập trường dạy học. Tiếng đồn về tài đức lan xa, sĩ tử khắp nơi tìm về tầm sư học đạo rất đông. Nhiều người trong số học trò của ông đã đỗ đạt cao, giữ đến các chức vụ trọng yếu trong triều đình như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát; tuy nhiên khi về thăm thầy vẫn giữ trọn lễ tiết, chỉ cần được thầy chỉ bảo vài lời đã lấy làm vinh hạnh.

Vua Trần Minh Tông (1314 – 1329) đã vời ông giữ chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám để trực tiếp giảng dạy thái tử. Tới thời Trần Dụ Tông, nhà vua cùng lực lượng nịnh thần lơ là việc triều chính, sa vào lối sống xa hoa. Nhiều lần can gián bất thành, ông quyết định dâng bản Thất trâm sớ đề nghị chém đầu 7 kẻ gian thần đang được sủng ái. Khi Trần Dụ Tông khước từ, ông liền “treo mũ ở cửa Huyền Vũ”, từ quan trở về ở ẩn tại núi Phượng Sơn, xã Kiệt Đặc, huyện Chí Linh, Hải Dương, lấy biệt hiệu là Tiều Ẩn.

Khi hay tin ông qua đời tại đây, vua Trần Nghệ Tông đã cử quan lại tới làm lễ viếng, ban tặng tên thụy là Văn Trình và dành một vinh dự đặc biệt cho người thầy dạy học là được phối thờ ở Văn Miếu. Sinh thời, ông để lại hai tập thơ gồm Quốc ngữ诗集 (Quốc ngữ诗集 – chép bằng chữ Nôm) và Tiêu Ấn诗集 (Tiêu Ấn诗集 – chép bằng chữ Hán), cùng cuốn sách khảo luận về bộ Tứ thư có tên Tứ thư thuyết ước.

Giai Thoại Thần Kỳ Về Trường Huỳnh Cung, Miếu Gàn Và Đầm Mực

Một huyền thoại minh chứng cho nhân cách cùng đạo đức cao dầy của ông cùng mái trường Huỳnh Cung vẫn còn truyền tụng đến nay. Trong số đông đảo sĩ tử tìm về thụ giáo, có một người luôn đến từ rất sớm để lắng nghe giảng bài. Người này không tiết lộ quê quán ở làng nào, còn các học trò khác thì nhận thấy cứ đi tới khu Đầm Đại là người này lại biến mất, ai nấy đều phỏng đoán là thần nước.

Nhằm năm hạn hán kéo dài, chứng kiến cảnh đồng ruộng nứt nẻ, lúa héo khô, Chu Văn An không đành lòng nên đã hỏi xem học trò nào có phép làm mưa cứu dân. Người học trò thần nước đứng ra thưa nhận lời thầy, dù biết hành động này là vi phạm quy định của thiên đình. Nói xong, người học trò mài mực vào nghiên, ngửa mặt lên trời khấn nguyện, lấy bút chấm mực rồi vẩy khắp bốn phương; khi hết mực liền tung cả nghiên lẫn bút lên không trung.

Ngay lập tức, mây đen ùn ùn kéo đến, mưa lớn dội xuống giúp đồng ruộng xanh tươi trở lại. Tuy nhiên, đến đêm hôm ấy, một tiếng sét dữ dội vang lên, và sáng hôm sau người dân phát hiện xác một con thuồng luồng nổi trên mặt đầm. Biết học trò đã xả thân vì nghe lời thầy cứu dân, Chu Văn An sai làm lễ an táng trang nghiêm và lập miếu phụng thờ, gọi là miếu Gàn.

  • Vị trí nghiên mực rơi xuống biến thành một chiếc đầm lớn, quanh năm nước đen như mực, được gọi tên là Đầm Mực (thuộc địa phận làng Quỳnh Đô).
  • Cán bút rơi xuống địa phận làng Tả Thanh Oai, tạo nên vùng đất học với nhiều người đỗ đạt cao.

Huyền thoại này tôn vinh tài đức của Chu Văn An đã cảm hóa được cả quỷ thần, khiến học trò vâng lời thầy mà chấp nhận hi sinh thân mình, vượt qua cả lệnh trời.

Tại miếu Gàn — nơi thờ phụng con vua thủy thần, người học trò của Chu Văn An — hiện còn lưu giữ câu đối tiêu biểu:

“Mặc nghiễn khởi tường vân, nhất bút mực hồi thiên tự thuận.
Chu đình lưu hoá vũ, thiên trù vọng khiếp địa phần khô.”

Tạm dịch: “Mây lành từ nghiên mực bay lên, một ngọn bút ra công, trời thuận theo lẽ phải. Mưa tối giữa sân son đổ xuống, nghìn cánh đồng đội nước, đất nẻ trổ mùa hoa” (Khái niệm “Chu đình” mang hai nét nghĩa: sân son triều đình và sân nhà của Chu Văn An).

Đền Thờ Chu Văn An Tại Huỳnh Cung

Tới khi Chu Văn An mất, các học trò cũ đã xây dựng đền thờ ông ngay trên nền đất của ngôi trường học xưa tại Huỳnh Cung. Vào khoảng đầu niên hiệu Vĩnh Thịnh, đền được mở rộng quy mô, có văn bia do ngự sử Nguyễn Công Thái soạn vào năm Vĩnh Thịnh thứ ba (1717). Đến năm Cảnh Hưng, Giáp Ngọ (1774), công trình tiếp tục được trùng tu dưới sự chủ trì của tham tụng Bùi Huy Bích (người cùng huyện), làm thêm tòa bái đường rộng 5 gian.

Tại đền Huỳnh Cung, ngoài bài vị thờ Chu Văn An, triều đại nhà Lê còn cho đặt bài vị thờ 61 vị văn thân của huyện Thanh Trì, trong đó có nhiều danh sĩ như Nguyễn Như Đỗ, Bùi Xương Trạch, Nguyễn Công Thế… Vào năm 1850, ông được vua Tự Đức phong làm thượng đẳng phúc thần, hàng năm vào hai kỳ xuân thu, văn thân trong huyện đều hội tụ về làm lễ tế. Tới năm 1860, đình lại được nhân dân quyên góp trùng tu, thay trái nóc, chạm trổ nội ngoại thất… sự kiện này có văn bia do Phương Đình Nguyễn Văn Siêu soạn thảo.

Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp, ngôi đình bị hư hại hoàn toàn, nền móng cũ chỉ còn lại trụ cột, rùa đá và bia đá. Tuy nhiên, dân làng vẫn bảo tàng nguyên vẹn các hiện vật thờ Chu Văn An gốc bao gồm:

* 2 mũ cánh chuồn
* 1 dải áo
* 1 áo long cổn
* 1 áo thụng hồng
* 1 đôi hài
* 1 ngai thờ
* 1 chùy đồng
* 6 sắc phong
* 1 cuốn thần tích được lập từ thời Lê Hồng Đức.

Nhân dân Huỳnh Cung sau đó đã tiến hành tu sửa ngôi đình, tôn vinh nơi tôn nghiêm xứng đáng với sự nghiệp của danh nhân văn hóa Chu Văn An – người con ưu tú của quê hương Thanh Liệt, Thanh Trì.

Đình Nội – Di Tích Lịch Sử Tại Thôn Văn (Thanh Liệt)

Tại quê hương ông ở thôn Văn có ngôi đình thờ ông gọi là Đình Nội. Ban đầu nơi đây vốn là một ngôi đền cổ, tới thời Lê Trung Hưng trở thành văn chỉ của làng Thanh Liệt để phụng thờ các vị khoa bảng trong làng. Căn cứ theo tấm bia “Tiên hiển bi ký” dựng năm Ất Dậu niên hiệu Cảnh Hưng (1765), đình Nội ban đầu thờ Chu Văn An cùng tằng tôn của ông là Chu Đình Bảo (người đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa thi Giáp Thìn 1484). Văn chỉ cũng phối thờ con trai Chu Văn An là Chu Tam Tỉnh (đỗ khoa Ngự thí năm Tân Hợi, làm quan tới chức Hàn lâm trực học sĩ, tả hình viện đại phu) và Lý Trần Thản (đỗ tiến sĩ khoa Ất Sửu, giữ chức Tả tư giảng, sau khi qua đời được truy tặng Binh bộ thượng thư).

Đình được dựng ngay sau khi ông mất vào thời nhà Trần. Vì nằm trong khoảng đất hẹp, vị tú tài người làng là Vũ Huy Diệu đã cùng nhân dân lựa chọn vị trí thoáng rộng hơn (khu vực hiện nay) để xây dựng lại vào năm Giáp Tý, niên hiệu Tự Đức. Cấu trúc đình thời bấy giờ gồm tòa chính giữa chia làm 3 gian lợp ngói, hai bên tả hữu là 2 dãy giải vũ, phối thờ hai vị tiến sĩ Chu Đình Bảo và Lý Trần Thản. Vào mùa xuân năm Nhâm Dần (1892), công trình tiếp tục trải qua một đợt sửa chữa.

Đặc Điểm Kiến Trúc Của Đình Nội

Đình Nội được dựng trên khoảng đất cao ráo bên dòng sông Tô Lịch, quay về hướng đông bắc. Trước kia, công trình là một quần thể kiến trúc liên hoàn, nhưng khi con đường ven sông Tô được mở rộng, di tích bị tách làm hai phần:

  1. Thủy đình: Công trình nhỏ hình bát giác nằm giữa ao hình bán nguyệt sát bờ sông Tô. Phần phía trên dựng theo kiểu 2 tầng 8 mái, các đầu đao uốn cong, bờ nóc đắp hình đôi rồng chầu, bên trong đặt tấm bia đá lớn.
  2. Khu kiến trúc chính: Nằm phía sau, có bố cục hình chữ “Công” với 3 nếp nhà tiền tế rộng 5 gian xây kiểu tường hồi bít đốc, các bộ vì làm kiểu vòm bán nguyệt. Hậu cung bao gồm 3 gian nhỏ, bộ vì làm theo kiểu “chồng rường, giá chiêng”, mặt bằng thiết kế 4 hàng ngang, vì làm kiểu “chồng rường” chạm khắc hình tứ linh, tứ quý tỉ mỉ.

Với những giá trị tiêu biểu về lịch sử và văn hóa, Đình Nội thờ Chu Văn An đã được Bộ Văn hóa – Thông tin chính thức xếp hạng di tích lịch sử vào ngày 21/1/1989.