Bố cái đại vương mang họ Phùng, có tên gọi là Hưng. Tổ tiên và cha ông của ngài qua nhiều đời liên tiếp nắm giữ vị trí tù trưởng tại khu vực châu Đường Lâm, thường được gọi bằng danh xưng Quan Lang (phong tục này hiện thời ở các vùng mạn ngược vẫn còn duy trì). Ngài xuất thân trong gia đình có gia sản giàu có, tính tình hào phóng, thường xuyên ra tay trợ giúp những người có hoàn cảnh khó khăn.
(Ghi chú của tác giả: Ngôi đền thờ phụng ngài tọa lạc tại làng Cam Lâm, thuộc địa giới huyện Phúc Thọ, Sơn Tây. Vùng đất Cam Lâm ngày nay chính là địa danh Đường Lâm thuở xưa).
Vương sở hữu thể chất phi phàm, từng một tay hạ gục hổ dữ và khuất phục được trâu mộng. Người em trai của ngài tên là Hải cũng có sức mạnh kỳ lạ, nhấc nổi khối đá nặng đến nghìn cân hoặc tự vai cõng chiếc thuyền trọng tải nghìn hộc di chuyển quãng đường dài tới mười dặm. Tiếng tăm của hai anh em vang xa khắp nơi, khiến các vùng lân cận nghe danh đều kính sợ.
Vào giai đoạn niên hiệu Đại Lịch (776-779) thuộc vương triều nhà Đường, tình hình bờ cõi nước ta rơi vào cảnh rối loạn. Vương cùng với em trai đã tập hợp binh sĩ đi chinh phục và bình định thành công khắp các vùng lân ấp. Lúc bấy giờ, Vương thay đổi tên thành Cự Lào, còn người em đổi tên thành Cự Lực. Kế tiếp, Vương tự xưng chức Đô Quân, người em xưng chức Đô Bảo. Dựa theo mưu kế hiến sác từ Đỗ Anh Luân (một người dân cư ngụ tại làng Đường Lâm), hai anh em dẫn đại quân đi tuần thú qua các châu Đường Lâm và Trường Phong, khiến dân chúng khắp nơi đều quy thuận trước uy danh lừng lẫy.
Vương cho loan truyền thông tin rằng quân đội chuẩn bị tiến đánh thẳng vào phủ Đô Hộ. Viên Quan Đô Hộ thời điểm đó là Cao Chính Bình (người gốc nhà Đường) điều động quân lính ra nghênh chiến nhưng nếm mùi thất bại, do quá lo lắng và sợ hãi nên đổ bệnh rồi qua đời. Vương chính thức tiến vào phủ Đô Hộ, nắm quyền cai trị bờ cõi và giữ dân được khoảng bảy năm thì tạ thế.
Sau khi ngài mất, nhiều phe cánh có ý định đưa Phùng Hải lên vị trí kế vị. Tuy nhiên, một vị quan Đầu mục tên là Bồ Phá Cần, người vốn sẵn có sức khỏe phi thường, đã kiên quyết phản đối ý nguyện này. Ông ta chủ động lập con trai của Vương là Phùng An lên nối ngôi, sau đó điều động binh sĩ chống lại Phùng Hải. Do e sợ sức mạnh của Bồ Phá Cần, Hải phải lánh mình vào khu vực động Chu Nham rồi từ đó biệt tích, không rõ đi đâu.
Phùng An lên ngôi vị, đã tôn xưng cha mình danh hiệu Bố Cái Đại Vương. Sự tình này là do theo phong tục của nước ta thời kỳ ấy, dân chúng gọi cha là “bô” và gọi mẹ là “cái”, chính vì vậy mới định ra tôn hiệu như trên. Trải qua thời gian hai năm, vua Đức Tông của nhà Đường bổ nhiệm Triệu Xương sang đảm nhận chức vụ Đô Hộ An Nam. Ngay khi vừa đặt chân đến nơi, Triệu Xương lập tức cử sứ giả mang theo nhiều lễ vật quý giá đến để dụ dỗ Phùng An ra đầu hàng. Phùng An chấp thuận xin hàng phục vào năm 791. Kể từ mốc thời gian đó, các thành viên thuộc dòng họ Phùng mỗi người ly tán đi một phương.
Sự hiển linh của Bố Cái Đại Vương sau khi qua đời
Bố Cái Đại Vương sau khi tạ thế tỏ ra vô cùng hiển linh. Người dân tại các làng quanh vùng thường nghe thấy âm thanh của xe, ngựa di chuyển rầm rộ trên mái nhà hoặc ở phía trên các vòm cây cổ thụ. Khi ngước mắt nhìn lên, họ thường trông thấy trong các tầng mây năm sắc xuất hiện cờ xí, kiệu hoa rực rỡ, kèm theo đó là tiếng đàn sáo vang vọng mơ hồ giữa tầng không.
Trong làng mỗi khi sắp sửa diễn ra sự việc gì quan trọng, vào ban đêm thường có một vị dị nhân xuất hiện để báo mộng cho người hào trưởng trong làng biết trước thông tin. Ai nấy đều lấy làm kinh ngạc và tôn kính, bèn cùng nhau xây dựng nên một ngôi đền thờ Vương đặt ở phía tây Đô Phủ. Ngôi đền này nổi tiếng rất linh thiêng, mỗi khi người dân tổ chức lễ cầu mưa hay cầu tạnh đều nhận được sự ứng nghiệm ngay lập tức. Bất kỳ ai gặp phải hoàn cảnh ngặt nghèo, hoặc bị trộm cướp, hoặc có nguyện vọng cầu tài lộc, khi đến đền thành tâm cầu khấn đều đạt được sự toại nguyện. Chính vì lẽ đó, người phương xa kéo đến làm lễ bái tại đền rất đông đúc, khói hương nghi ngút quanh năm không bao giờ nguội lạnh.
Phù trợ Ngô Quyền đại thắng giặc Nam Hán trên sông Bạch Đằng
Vào thời điểm Ngô Tiên Chủ (tức vua Ngô Quyền) tiến hành dựng nước, gặp lúc quân giặc Nam Hán đem quân sang xâm lược bờ cõi ta, Tiên Chủ đang ngày đêm trăn trở tìm phương sách phòng thủ và đánh trả. Vào một đêm nọ, Tiên Chủ nằm mộng thấy một cụ già râu tóc bạc phơ, mũ áo chỉnh tể tiến đến diện kiến, tự giới thiệu rõ ràng danh tính họ tên và nhắn nhủ rằng: “Tôi đã chuẩn bị sẵn một vài đội thần binh để trợ lực cho nhà vua, xin nhà vua hãy lập tức tiến quân xuất trận ngay, không cần phải lo nghĩ sâu xa nữa!”.
Đến khi Tiên Chủ dẫn quân trực tiếp giao chiến với quân thù trên dòng sông Bạch Đằng, quân sĩ nghe thấy trên tầng không có tiếng xe ngựa vang lên ầm ầm, và kết quả quả nhiên trận chiến ấy quân ta giành được đại thắng. Tiên Chủ nhận thấy sự việc vô cùng kỳ lạ, liền truyền lệnh cho quân lính sửa soạn đầy đủ đồ lễ cúng tế cùng các loại tàn quạt, chuông trống mang đến tận đền để làm lễ tạ ơn.
Sắc phong qua các triều đại phong kiến
Các triều đại vua chúa về sau này cứ thế nối tiếp nhau biến điều này thành thông lệ. Đến thời nhà Trần, vào năm Trùng Hưng thứ 1 (1285), vua ban sắc phong cho Phùng Vương danh hiệu là Phu Hựu Đại Vương. Vào năm Hưng Long thứ 20 (1321), triều đình lại tiếp tục gia phong thêm hai chữ Sùng Nghĩa. Cho đến tận ngày nay, dấu tích linh thiêng của ngài vẫn còn lưu truyền rõ nét, và nhân dân vẫn hết lòng phụng thờ, sùng kính.
