Ngài mang họ Lý, có tên tự là Thường Kiệt, vốn là người cư ngụ tại phường Thái Hòa nằm trong khu vực kinh đô Thăng Long. Người cha của ngài có tên là An Ngữ, từng đảm nhiệm chức vụ Sùng ban lang tướng. Ngài là người sở hữu nhiều mưu lược, đồng thời có tài thao lược binh pháp. Ngay từ thuở thanh xuân, ngài đã sớm nổi danh nhờ sự tài ba, mẫn tiệp của mình, chính vì thế đã được triều đình tuyển chọn và bổ nhiệm vào chức vị Hoàng Môn Chi Hầu.
Vào giai đoạn trị vì của Đức vua Lý Thái Tông (1028-1053), ngài đảm nhận chức quan Nội Thị Đô Tri. Cho đến khi vua Thánh Tông lên ngôi báu, ngài được triều đình thăng tiến lên chức Hiệu úy Thái Bảo. Trong suốt quá trình thực thi công vụ, ngài luôn giữ thái độ kính cẩn, tuân thủ nghiêm ngặt theo đúng lễ nghi phép tắc, chưa từng để xảy ra bất kỳ một sơ suất hay điều gì sai sót. Chính nhờ sự tận tụy đó, ngài đã được tin tưởng giao phó trọng trách đi tra xét tình hình quan lại và dân chúng tại hai quận Thanh hóa, Nghệ An cùng với các xứ Nam – Liêu thuộc địa giới năm huyện. Trong trường hợp phát hiện có nơi nào không tuân theo mệnh lệnh của triều đình, ngài được nhà vua ban cho đặc quyền tự mình trấn áp và thu phục.
Chiến công bình định Chiêm Thành và phá ba châu nhà Tống
Thời bấy giờ, quốc vương nước Chiêm Thành không chịu thực hiện việc sang triều cống. Đức vua Lý Thánh Tông đã tự mình thống lĩnh quân đội tiến vào chinh phạt (1069). Ngài đảm nhận cương vị Đại tướng, dẫn dắt lực lượng tiền phong, đánh tan quân đội Chiêm Thành và vây bắt thành công vua Chiêm là Chế Củ.
Nhờ lập được đại công này, ngài được triều đình thăng chức làm Phụ Quốc Thái úy, ban danh hiệu Thiên Tử Nghĩa Đệ, Phụ Quốc Đại Tướng Quân, Khai Quốc Công. Đến khi vua Nhân Tông lên kế vị ngôi báu, ngài tiếp tục được phong chức Phụ Quốc Thái úy, đứng ở vị trí hàng đầu trong các đại thần.
Lúc ấy, nhận được tin tức triều đình nhà Tống đang tiến hành chỉnh đốn quân mã, chuẩn bị kéo sang xâm lược bờ cõi nước ta. Ngài liền dâng sớ tâu lên nhà vua rằng: “Ngồi đợi giặc đến, chẳng thà đánh trước làm nhụt nhuệ khí của giặc”. Vua Nhân Tông lập tức giao cho ngài tổng chỉ huy đại quân tiến sang đánh phá các châu Khâm, châu Liêm và châu Ung, thu giữ rất nhiều quân dân cùng với tài sản mang về nước.
Đến năm Long Phù thứ 1 (1101), ngài được thăng chức Nội Thị Phán Tỉnh, trực tiếp quản lý toàn bộ các công việc đối nội và đối ngoại. Vào mùa đông năm đó, ngài thống lĩnh quân sĩ dẹp tan phe cánh phản loạn của Lý Giác tại vùng Diễn Châu.
Nhà Tống sau đó điều động tướng lĩnh dẫn binh mã sang đánh trả để báo thù, tiến hành chiếm đóng một số châu ở khu vực mạn ngược. Ngài đã dốc toàn lực xây dựng chiến lũy kiên cố tại bến sông Như Nguyệt để phòng thủ, sau đó tổ chức phản công và thu hồi lại được vùng Vũ Bình Nguyên. Khi khúc khải hoàn vang lên, nhà vua đã ban thưởng cho ngài vô cùng hậu hĩnh.
Đến khi ngài qua đời, triều đình lại truy phong chức chức Nội Điện Đô Tri Hiệu Kiểm, Thái úy Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự, phong tước Việt Quốc Công và cấp cho thực ấp gồm 10.000 hộ. Đồng thời, triều đình cũng cho phép người em trai của ngài tên là Thường Hiến được thừa kế phong tước hầu.
Chính sách bài trừ mê tín dị đoan và dấu ấn đền thờ linh ứng
Sinh thời, ngài vốn là người cực kỳ căm ghét các trò dị đoan. Do đó, tất cả những kẻ có hành vi chuộng ma quỷ, đồng cốt, gây hoang mang và mê hoặc lòng người đều bị ngài trừng phạt một cách nghiêm khắc, đồng thời loại bỏ đi rất nhiều. Toàn bộ những ngôi đền thờ phụng nhảm nhí đều được ngài cải biến thành nơi thờ tự các vị phúc thần.
Chính vì ghi nhớ công ơn sâu nặng này, dân chúng đã tâu lên đức vua xin được xây dựng đền thờ ngài. Vào năm Trùng Hưng thứ 1, triều đình ban sắc phong tước Trung Phụ Công. Tới năm thứ 4, nhà vua gia phong thêm hai chữ Dũng Mãnh. Đến năm Hưng Long thứ 21, triều đình lại tiếp tục gia phong thêm hai chữ Uy Thắng. Cho đến thời điểm hiện tại, ngôi đền thờ ngài vẫn giữ vẻ tôn nghiêm và hiển hiện sự linh ứng rõ rệt.
