Bảo quốc Trấn linh Định bang Quốc đô Thành hoàng Đại vương

Bảo quốc Trấn linh Định bang Quốc đô Thành hoàng Đại vương, dựa trên ghi chép trong sách Giao Châu kí cùng tác phẩm Truyện Báo Cực:Bậc tôn thần vốn họ , tên tự là Lịch, từng giữ chức quan Lệnh tại vùng đất Long Độ. Dòng dõi tiên tổ đã sinh cơ lập nghiệp tại xứ này qua nhiều thế hệ, lập nên thôn làng ngay cạnh bờ của một dòng sông nhỏ. Gia cảnh vốn thanh bạch, luôn lấy đức hiếu thuận làm tôn chỉ hàng đầu, suốt ba đời con cháu cùng cư ngụ hòa thuận, nhường nhịn lẫn nhau chứ không chia tách tài sản để ở riêng. Vào thời nhà Tấn, khi triều đình tiến hành xem xét và tuyên dương những gia tộc có đức hiếu hạnh, gia đình của ngài đã được ban khen ngợi. Gặp lúc thiên tai mất mùa, đời sống nhân dân đói kém, nhà vua cũng ban chiếu chỉ đặc biệt cho gia đình ngài được vay mượn thóc gạo. Từ chính điển tích tốt đẹp ấy, người dân địa phương đã lấy hai chữ “Tô Lịch” để đặt tên cho làng.

Giai thoại lập đền thờ thời nhà Đường đô hộ

Vào năm Trường Khánh thứ 3 (năm 823) dưới triều vua Đường Mục Tông, viên quan Lý Nguyên Gia được cử sang đảm nhận chức vụ đô hộ. Khi tới nơi, viên quan này nhận thấy tại phía cửa Bắc của thành Long Biên xuất hiện một dòng nước chảy ngược dòng, địa thế xung quanh vô cùng tươi đẹp. Lý Nguyên Gia liền tìm kiếm những khu đất cao ráo, bằng phẳng để di dời phủ lị về đóng đô tại đây. Phủ đường được tiến hành xây dựng và sửa sang lại, hình thành nên từng dãy nhà cửa quy củ, mở thêm nhiều lối cổng ngõ ra vào. Khu đất đặt phủ lị mới này lại chính là nền nhà cũ ngày trước của ngài Tô Lịch.

Sau đó, Lý Nguyên Gia cho giết mổ trâu bò, sửa biện yến tiệc linh đình để kính mời các bậc kì lão, cao niên trong làng đến tham dự. Nhân cơ hội này, viên đô hộ hỏi han sâu sắc về câu chuyện của ngài và bày tỏ nguyện vọng muốn dâng tấu sớ xin triều đình tôn phong ngài làm vị thần Thành hoàng địa phương. Nhận được sự đồng thuận và vui vẻ tán thành từ mọi người, triều đình đã cho khởi công xây dựng nên một ngôi đền thờ rất nguy nga, tráng lệ. Ngày diễn ra nghi lễ khánh thành đền thờ, bầu không khí diễn ra vô cùng náo nhiệt và hân hoan.

Khi đêm xuống, lúc Lý Nguyên Gia đang nằm nghỉ ngơi, bỗng nhiên có một luồng gió mát thổi tới làm bức mành mành lay động. Viên quan nhìn thấy một cụ già cưỡi trên lưng con hươu trắng từ trên không trung hạ xuống. Cụ già có mái tóc bạc trắng như tơ, xiêm y vô cùng lịch sự, bước lại gần và bảo với Lý Nguyên Gia rằng: “Rất cảm ơn sứ quân đã có lòng bầu chọn tôi làm vị thần Thành Hoàng nơi đây. Tôi có lời muốn đến khuyên nhủ sứ quân: nếu ngài đem hết tấm lòng để ban bố giáo hóa, dạy dỗ cho trăm họ cư ngụ trong kinh thành này thì mới thật sự xứng đáng với chức vị Mục Thú, mới thật sự là một bậc quan cai trị có nhãn chính!”

Lý Nguyên Gia nghe xong liền chắp tay cung kính xin vâng mệnh, rồi gạn hỏi họ tên của cụ già. Tuy nhiên, cụ già không đưa ra câu trả lời. Giật mình tỉnh giấc, viên đô hộ mới nhận ra tất cả vừa rồi là một giấc mộng. Đến thời kỳ quan Cao Biền sang đảm nhận việc đắp thành Đại La vào năm 866 sau Công nguyên, vị quan này nghe danh tiếng linh ứng và hiển hách của ngài nên đã sửa biện lễ vật đến tế lễ trang trọng, đồng thời tôn phong ngài làm Đô Phủ Thành Hoàng Thần Quân.

Sự hiển linh nâng đỡ cơ đồ triều Lý

Sau khi triều đại nhà Lý thành lập, vị vua Lý Thái Tổ tiến hành cuộc dời đô lịch sử ra thành Đại La và quyết định đổi tên gọi nơi đây thành kinh thành Thăng Long (năm 1010). Trong khoảng thời gian này, nhà vua thường xuyên nằm mộng nhìn thấy một cụ già râu tóc bạc phơ, đứng cung kính trước bệ rồng vái chào và hô vang vạn tuế. Nhà vua liền gạn hỏi họ tên, cụ già đã tâu bày ngọn ngành rõ ràng. Vua Lý Thái Tổ mỉm cười và nói: “Tôn thần có ước nguyện muốn giữ gìn hương lửa suốt trăm năm hay sao?”

Cụ già liền cung kính thưa rằng: “Bản thân tôi chỉ có mong muốn thánh thọ của bệ hạ được dài lâu, cơ đồ đất nước được vững bền, trong hoàng triều ngoài các quận huyện lúc nào cũng được bình yên, vui vẻ. Nếu được như vậy thì chúng tôi nguyện gìn giữ hương lửa thờ phụng chẳng những chỉ có trăm năm mà thôi đâu!”

Khi nhà vua tỉnh giấc, ngài lập tức sai quan quân đem lễ vật đến đền tế tự, chính thức ban sắc phong tặng danh hiệu Quốc Đô Thăng Long Thành Hoàng Đại Vương. Kể từ thời điểm đó, người dân sinh sống trong kinh thành mỗi khi gặp việc đều đến đền thờ thực hiện lễ cầu đảo, lập lời thề ước thì đều thấy sự linh ứng hiện hữu rõ rệt. Vào năm Trùng Hưng thứ 1, ngài được triều đình ban sắc phong thêm hai chữ Bảo Quốc; tới năm thứ 4 lại tiếp tục được gia phong thêm hai chữ Hiển Linh; đến năm Hưng Long thứ 21, ngài tiếp tục được triều đình gia phong thêm hai chữ Định Bang.