Các Trò Chơi Thi Đốt Pháo Truyền Thống Trong Lễ Hội Việt Nam

Vào những ngày Tết nguyên đán hoặc tại các dịp hội xuân, âm thanh tiếng pháo nổ vang rền cùng hình ảnh xác pháo hồng tan vụn tựa như những cánh hoa đào từ lâu đã khắc sâu vào tâm trí người Việt. Tục lệ này đem lại cảm giác tươi vui, nhẹ nhõm, đồng thời gieo vào lòng mỗi người niềm tin tốt lành về một năm mới an khang. Loại pháo cực đại ở Đồng Kỵ hay các loại pháo hoa phong phú tại Bình Đà đóng vai trò là nội dung cốt lõi của lễ hội làng Đồng Kỵ cũng như lễ hội làng Bình Đà. Trong nhiều ngày hội làng thời xưa, người dân còn tổ chức trò Thi đốt pháo và Thi cướp pháo với đa dạng hình thức khác nhau như một chương trình giải trí độc đáo. Một vài quan điểm nhận định rằng những trò chơi dân gian này chính là tàn dư của một phong tục cổ xưa.

*Chú thích: Tục đốt pháo ngày nay không còn được duy trì do sự lãng phí và nguy cơ gây ra tai nạn nguy hiểm. Vì vậy, vào năm 1994, Chính phủ đã ban hành lệnh cấm nhân dân sản xuất cũng như đốt pháo tự do. Dù vậy, tư liệu này vẫn ghi chép lại phong tục cổ kể trên, bởi đây là một phần không thể tách rời của lễ hội đã tồn tại suốt chiều dài lịch sử văn hóa Việt Nam.

1. Đi thuyền, đốt pháo: Sự thách thức tính kiên nhẫn và khéo léo

Để tổ chức cuộc thi, dân làng thường lựa chọn một khu vực ao hoặc hồ có không gian sạch sẽ, quang đãng và sở hữu bờ cỏ rộng rãi bao quanh nhằm làm nơi cho khán giả đứng theo dõi. Một cây trúc dài nguyên ngọn được cắm thẳng đứng giữa lòng ao, phía trên ngọn treo đung đưa một bánh pháo. Dựa theo danh sách đăng ký từ trước, ban giám khảo sẽ lần lượt gọi tên từng người tham gia. Đến lượt mình, người ứng thí phải bước xuống một chiếc thuyền nan, sử dụng sào chống để đẩy thuyền tiếp cận vị trí treo bánh pháo, sau đó cầm cây hương đang cháy đỏ để châm ngòi pháo.

Luật chơi quy định rất nghiêm ngặt: người dự thi tuyệt đối không được dùng tay chạm vào cây trúc hay bánh pháo. Việc giữ cho chiếc thuyền nan đứng yên, không bị dịch chuyển hay chao đảo, đồng thời phải đưa cây hương châm lửa chính xác vào phần ngòi ở đầu bánh pháo giữa lúc ngọn trúc mỏng manh liên tục lay động trước gió là một thử thách vô cùng gian nan. Lúc giữ được thuyền ổn định thì bánh pháo lại đung đưa xê dịch; đến khi đưa cây hương vừa chạm đầu bánh pháo thì con thuyền lại bị gió thổi bạt sang hướng khác. Trong khoảng thời gian quy định (thông thường là 15 phút), nếu người thi không thể làm pháo nổ thì khi nghe thấy một hồi trống lệnh vang lên, họ bắt buộc phải chèo thuyền quay lại bờ để nhường cơ hội cho người kế tiếp ra tài.

Có những lúc do vô ý, quá đà hoặc mất thăng bằng, người ứng thí cuống cuồng làm lật thuyền và ngã nhào xuống nước, chịu cảnh ướt lướt thướt như chuột lột trong tiếng reo hò, cổ vũ đầy thích thú của khán giả quanh bờ ao. Có những năm, suốt từ sáng đến chiều muộn không một ai đốt pháo thành công, khiến ban tổ chức phải kéo dài cuộc thi sang ngày hôm sau. Tuy nhiên, nếu đến lúc kết thúc mà vẫn không tìm được người chiến thắng, ban giám khảo sẽ chỉ định hai người chèo thuyền ra châm ngòi pháo nhằm lấy khước, tìm kiếm sự may mắn chung cho toàn thể dân làng. Người giành được thắng lợi cuối cùng không chỉ nhận phần thưởng từ làng mà bản thân cùng gia đình còn có quyền kỳ vọng vào những điều tốt lành, hanh thông sẽ đến trong năm mới theo nếp nghĩ truyền thống. Trò chơi dân gian này thường được tổ chức tại hội làng thuộc các tỉnh Hà Tây, Nam Định, Hải Dương… hoặc tại những vùng đất có nhiều sông ngòi, ao hồ.

2. Đốt pháo, ném nhau tại làng Phù Lưu

Tại làng Phù Lưu, thuộc huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh, người dân vẫn lưu giữ một phong tục cổ xưa là nam thanh nữ tú thi đốt pháo rồi ném vào nhau trong dịp lễ hội làng mở ra vào ngày 13 tháng giêng. Theo lệ làng, sau khi kết thúc lễ cúng thần, dân làng sẽ kính mời một vị sư đến làm lễ cúng Phật tại khu vực sân đình. Trong bài sớ, mỗi khi vị sư đọc tới các từ ngữ mang hàm ý rủi ro, xui xẻo thì người dân lại châm ngòi một quả pháo nhằm mượn tiếng nổ vang để xua đuổi những điều xấu xa. Kế tiếp, các cặp trai gái cùng nhau kéo ra khu ruộng rộng lớn để vui chơi, thực hiện trò đốt pháo ném nhau kéo dài cho tới tận nửa đêm. Không gian ngập tràn tiếng pháo nổ đì đẹt, tiếng cười nói rộn rã, tiếng gọi nhau í ới hòa lẫn cùng ánh chớp lóe sáng từng chặp giữa bầu trời đêm.

Những bậc cao niên tại địa phương kể lại rằng, vào thời thanh xuân của các cụ, năm nào đến hội làng mọi người cũng tham gia trò chơi ném pháo một cách say sưa. Tục lệ này vốn bắt nguồn từ câu chuyện truyền thuyết về vị thành hoàng làng – một võ quan dưới triều vị vua nhà Lý. Vị tướng này đã lĩnh ấn tiên phong cầm quân đánh đuổi giặc ngoại xâm. Trong tiệc mừng chiến thắng vang dội, các quân sĩ dưới quyền ông đã đốt pháo ăn mừng rồi nghịch ngợm ném pháo vào nhau. Về sau, cứ mỗi dịp mở hội làng, nhằm bày tỏ lòng biết ơn trước công lao to lớn của vị thành hoàng, nhân dân lại tái hiện trò chơi ném pháo như một cách lưu giữ kỷ niệm đẹp.

3. Thi tung pháo: Đòi hỏi độ chính xác tuyệt đối

Cuộc thi tung pháo đặt ra những yêu cầu rất cụ thể đối với người tham gia:

  • Pháo sau khi được châm ngòi phải được ném lên cao và phát nổ khi đang ở trên không trung.
  • Xác pháo sau khi nổ phải tan đều thành những mảnh vụn màu hồng.
  • Tiếng pháo nổ phải đảm bảo độ đanh và giòn giã.
  • Mỗi người tham gia chỉ được thực hiện đốt một quả pháo trong một lần duy nhất.
  • Người dự thi phải có trách nhiệm tự tay chuẩn bị quả pháo của riêng mình.

Khi bước vào phần tranh tài, người dự thi sẽ tiến ra giữa sân đình, trên tay cầm quả pháo cùng cây hương đang cháy đỏ. Kế sau tiếng trống lệnh hiệu triệu, quả pháo được châm ngòi rồi tung lên cao, hướng càng cao càng tốt. Theo quy định, pháo bắt buộc phải phát nổ ở vị trí cao nhất trên không trung. Những trường hợp pháo nổ ngay khi còn ở trên tay, vừa tung ra đã nổ hoặc rơi xuống mặt đất mới phát nổ thì đều bị tính là phạm quy và bị loại. Tệ hơn cả là tình trạng cháy hết ngòi mà quả pháo vẫn im lìm, coi như pháo tịt và không được ban giám khảo xem xét. Trong cuộc thi, nếu xuất hiện nhiều người cùng đạt tiêu chuẩn (pháo nổ trên không), ban tổ chức sẽ tiếp tục tiến hành vòng thi thứ 2, vòng thứ 3 để phân định và xếp hạng trao giải. Trò vui này luôn nhận được sự cổ vũ và hưởng ứng vô cùng nhiệt liệt từ giới trẻ.

4. Thi pháo nổ đều: Tưởng đơn giản nhưng đầy công phu

Mới nghe qua, nhiều người lầm tưởng trò chơi này rất dễ dàng, nhưng thực tế lại không hề đơn giản. Để đảm bảo pháo đạt hiệu quả cao nhất, người tham gia phải tự mình quấn pháo theo đúng kích thước tiêu chuẩn, hoặc chủ động đặt làm tại các cơ sở sản xuất có uy tín lâu năm. Mỗi bánh pháo đem đi dự thi phải có số lượng chính xác là 100 quả. Khi châm ngòi, yêu cầu nghiêm ngặt là pháo phải nổ thật đều, nổ hết sạch và tuyệt đối không có quả nào bị tịt ngòi. Đó chính là tiêu chuẩn cốt lõi nhất để đánh giá. Sau khi đạt điều kiện này, ban giám khảo mới tiếp tục xem xét tới các yếu tố phụ khác như xác pháo có tan đều thành các mảnh nhỏ màu hồng hay không, diện tích lan tỏa của xác pháo có rộng không và tiếng nổ có đủ đanh hay không.

5. Thi ném pháo có mục tiêu: Nghệ thuật canh thời gian

Tại Lễ hội làng Khoan Tế, thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội, diễn ra vào ngày 10 tháng giêng, người dân luôn tổ chức một trò chơi ném pháo vô cùng đặc sắc. Trên khoảng sân đình rộng rãi, người ta trồng sẵn 6 cây tre (hoặc cây trúc) với chiều cao tầm 5 m, đặt cách quãng đều nhau. Tại ngọn của mỗi cây tre có buộc một vòng tròn làm bằng tre với đường kính 25 cm, phần mặt vòng tròn được dán kín bằng một lớp giấy mỏng màu hồng. Mỗi lượt thi gồm có 6 người đứng vào các vị trí cố định cách chân cột tre một khoảng nhất định, tay họ cầm sẵn quả pháo và cây hương đang cháy.

Nhận lệnh từ ban chấm thi đang ngồi trên hàng ghế ở hiên đình, từng người sẽ châm ngòi quả pháo rồi ném hướng lên vòng tròn dán giấy hồng. Mục tiêu là làm sao cho quả pháo phát nổ đúng vào khoảnh khắc chạm vào vòng tre, khiến tia lửa xòe ra đốt cháy rụi miếng giấy hồng. Trường hợp có nhiều người cùng ném trúng mục tiêu và pháo nổ đúng lúc, quả pháo nào thiêu rụi hoàn toàn phần giấy hồng sẽ được ban tổ chức trao giải thưởng cao nhất.

Trong khi đó, ở khu vực Thị Cầu thuộc thành phố Bắc Ninh – nơi vốn nổi tiếng với nghề làm pháo lâu đời – cứ vào dịp hội làng xuân thu nhị kỳ hằng năm (nhằm ngày mồng 3 tháng giêng và ngày 16 tháng 8) đều diễn ra trò thi ném pháo ngay tại sân đình. Một quả pháo đại sở hữu chiều dài khoảng 30 cm, đường kính dao động từ 6 – 8 cm sẽ được treo lơ lửng trên một cây cột trống đặt giữa sân. Quả pháo mang màu sắc của hoa đào, bên ngoài trang trí họa tiết hình hoa, hình rồng sặc sỡ bằng giấy màu và giấy trang kim. Ngòi của quả pháo đại được tết lại từ 3 chiếc ngòi nhỏ.

Người tham gia cuộc thi đứng ở phía dưới, sử dụng một quả pháo mồi, châm lửa rồi tính toán kỹ lưỡng thời gian để khi ném lên, quả pháo mồi phát nổ và bắn tia lửa chính xác vào phần ngòi của quả pháo đại, làm nổ tung quả pháo lớn này. Nếu đến cuối hội mà vẫn không có ai đoạt giải, ban chấm thi sẽ cử người bắc thang lên cao để chủ động châm ngòi cho pháo đại nổ, nhằm mục đích tránh điềm sái cho ngày hội làng.

Mặc dù hai trò chơi thi ném pháo kể trên có sự khác biệt về phương thức thực hiện, song cả hai đều có chung một đòi hỏi khắt khe: người ném pháo phải là người dày dặn kinh nghiệm, thấu hiểu đặc tính cháy của thuốc pháo mồi. Họ phải tính toán cực kỳ chính xác khoảng thời gian từ lúc quả pháo rời tay bay đến đích cho đến khi phát nổ thì mới có thể đạt được kết quả như ý.

6. Cướp đầu pháo: Tinh thần thượng võ của đồng bào Tày, Nùng

Cướp đầu pháo là một trò chơi gian gian vô cùng vui khỏe, náo nhiệt vào mỗi dịp hội xuân của cộng đồng người Tày, người Nùng sinh sống tại các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Kạn. “Đầu pháo” thực chất là một chiếc vòng làm bằng sắt dày khoảng 2 cm, sở hữu đường kính 10 cm, được lồng khít khao bên trong một quả pháo đại có chiều dài lên tới 40 cm. Quả pháo này được trang trí bắt mắt bằng chỉ ngũ sắc cùng giấy trang kim lấp lánh.

Trò chơi này thường xuất hiện trong các ngày hội xuân tổ chức ở Kỳ Lừa (Lạng Sơn) và Đồng Mỏ vào những ngày thượng tuần của tháng giêng, hay tại hội Đình Chợ (Quảng Yên, Cao Bằng) vào ngày mồng 2 tháng 2. Trong số đó, hội Đình Chợ luôn là nơi đông vui, nhộn nhịp hơn cả. Ngay từ những ngày trước khi hội chính diễn ra, các chàng trai cô gái từ khắp các ngả đường đã nô nức kéo về đây tụ hội.

Sau khi phần lễ cúng thần kết thúc, ngày hội được chính thức khai mạc bằng một tràng pháo hồng rất dài treo từ trên đài cao 8 – 9 m. Tiếng pháo nổ giòn giã hòa cùng tiếng reo hò cổ vũ của hàng ngàn người dân địa phương và du khách thập phương. Mọi người đều hồi hộp chờ đợi để chứng kiến trò chơi “cướp đầu pháo” chuẩn bị bắt đầu. Trong biển người đông đúc, nhiều thanh niên sở hữu vóc dáng vạm vỡ, mình trần, ngực nở đang đi lại, có lúc họ tập hợp thành từng nhóm ba người – đó chính là các “đấu thủ” đang chuẩn bị tinh thần bước vào cuộc tranh cướp “đầu pháo”.

Một vị hương chức uy tín trong làng đóng vai trò chủ hội tiến đến trước bàn thờ để thắp hương hành lễ. Sau khi lễ tất, vị này bê quả pháo đại ra đặt trang trọng trên chiếc bàn ở giữa sân đình và chuẩn bị châm ngòi. Đây là loại pháo thăng thiên, do đó khi bắt lửa vút lên cao, nó sẽ dễ dàng làm tung và rơi chiếc vòng sắt (đầu pháo) xuống mặt đất. Bất kỳ ai giành được chiếc “đầu pháo” ấy đều xem đó là một vinh dự vô cùng lớn lao và tin rằng bản thân sẽ gặp nhiều may mắn trong cuộc sống. Chính vì lẽ đó, cuộc giành giật giữa các nhóm thanh niên luôn diễn ra vô cùng quyết liệt. Khi đã xuất sắc nắm được “đầu pháo” trong tay, người chơi phải thật nhanh nhẹn, khôn ngoan để lách qua các đối thủ, nhanh chóng thoát khỏi đám đông (thường có các đồng đội đi cùng hỗ trợ bảo vệ), rồi chạy thẳng vào trong đình, cung kính đặt chiếc “đầu pháo” lên bàn thờ và thực hiện lễ ba lễ. Đến lúc này, cuộc chơi mới chính thức tính là thắng cuộc.

Cá nhân (hoặc hội nhóm) cướp được “đầu pháo” sẽ nhận được phần thưởng của làng là một con lợn cùng số lượng gạo nếp để làm cỗ ăn mừng chiến thắng. Sau đó, nhóm thắng cuộc sẽ tổ chức rước “đầu pháo” về nhà để lập bàn thờ trang trọng. Đợi tới năm sau, khi dịp hội xuân lại mở ra, họ mới rước chiếc đầu pháo này trở lại đình làng để cuộc chơi tiếp tục tái diễn. Trò cướp đầu pháo từ lâu đã được xem như một trò chơi mang đậm tinh thần thượng võ truyền thống của đồng bào Tày, Mường và luôn nhận được sự hưởng ứng tham gia đông đảo từ các thế hệ thanh niên.

7. Đánh pháo đất: Tập tục xua tan dịch bệnh, cầu bình an

Hằng năm, vào thời điểm chuyển giao từ mùa xuân sang mùa hè, người dân làng Nguyên Xá, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình lại nô nức tổ chức cuộc thi đánh pháo đất. Những quả pháo đất tại đây được chế tác từ loại đất sét có màu đen, đặc tính dẻo và mịn. Người ta nặn pháo thành hình bầu dục với chiều dài khoảng 60 cm, chiều ngang tầm 40 cm, chiều cao độ 15 cm, phần thành pháo có độ dày từ 1 – 1,5 cm và tổng cân nặng dao động chừng 20 kg.

Khi tiếng trống làng vang lên tưng bừng để báo hiệu ngày hội thi đánh pháo đất bắt đầu, người dân lại rủ nhau lũ lượt kéo đến khu vực bãi đập pháo. Đó là một khoảng sân rộng rãi, bằng phẳng được lát gạch hoặc nền đất nện rắn chắc, vừa dùng làm nơi cho các pháo thủ thi tài, vừa có đủ không gian chứa đựng lượng lớn khán giả đến xem. Dựa theo tiếng trống lệnh, từng tốp pháo thủ sẽ lần lượt tiến vào sân đấu. Một chàng trai sở hữu sức khỏe tốt nhất trong tốp được tin tưởng chọn ra để nâng quả pháo đất lên ngang tầm ngực. Tiếp đó, anh ta vận dụng toàn bộ sức lực của cơ thể, giơ pháo lên cao rồi đập úp thật nhanh quả pháo xuống mặt đất.

Hành động này khiến lượng không khí nằm bên trong lòng pháo bị nén lại đột ngột, tạo ra sự chênh lệch áp suất lớn giữa bên trong và bên ngoài, từ đó phát ra một tiếng nổ lớn; đồng thời luồng không khí thoát mạnh ra ngoài làm vỡ toác phần thân đáy của quả pháo đất. Ban giám khảo sẽ tiến hành đo đạc kích thước của vết toác này để tính toán điểm số cho thí sinh.

Ý nghĩa sâu xa của cuộc thi đánh pháo đất vốn không nằm ở việc phân định thắng thua, ở tài nghệ nặn pháo hay ở sức mạnh cơ bắp của người đập pháo. Trò chơi này bắt nguồn từ một tập tục lâu đời của những cư dân thuộc nền văn minh lúa nước vào giai đoạn giao mùa, từng được đúc kết qua câu ca dao cổ: “Diều sáo, pháo đất, nhẹ thời khí”. Người xưa luôn quan niệm rằng tiếng pháo đất nổ vang cùng hình ảnh con diều sáo bay cao vào thời điểm chuyển mùa này sở hữu một “ma lực” huyền bí, giúp xua tan đi mọi luồng khí độc, đẩy lùi bệnh dịch, từ đó giúp cho cuộc sống của con người luôn được yên ổn, vui tươi.

8. Thi pháo trò: Đỉnh cao nghệ thuật sáng tạo của nghệ nhân Bình Đà

Đây là một cuộc thi mang tính sáng chế ra các loại pháo hoa có đủ sắc màu rực rỡ, do chính bàn tay nghệ thuật của các nghệ nhân làm pháo tại làng Bình Đà (trước đây thuộc Hà Tây, nay thuộc Hà Nội) thực hiện vào mỗi dịp Tết Nguyên Đán, hoặc trong ngày hội làng diễn ra vào mồng 6 tháng 3 âm lịch.

Cây pháo trò đem đi dự thi có cấu trúc gồm 12 tầng, trong đó mỗi tầng đặt cách nhau một khoảng cách là một mét. Cây pháo được thiết kế theo một kỹ thuật chế tác riêng biệt, người ta chỉ cần châm lửa một lần duy nhất ở tầng thứ nhất (tức là tầng thấp nhất), ngọn lửa sẽ tự động cháy và gây nổ dây chuyền lần lượt lên đến tầng chót (tầng thứ 12). Tầng chót này chính là một quả pháo thăng thiên. Khi bắt được lửa, quả pháo sẽ bay vọt thẳng lên trời xanh ở độ cao tầm 50 m, rồi bất ngờ tung ra giữa không trung những dải ánh sáng 7 màu rực rỡ tựa như một cầu vồng lộng lẫy, đặc biệt lung linh khi pháo được đốt vào ban đêm.

Sở dĩ gọi là pháo trò bởi vì tại mỗi tầng, khi ngọn lửa cháy tung ra sẽ xuất hiện những “con rối” chuyển động diễn các tích trò dân gian như “đấu gậy”, “múa rồng”, “lực điền cày ruộng”, “bát tiên múa hát”… Việc thiết kế và chế tạo nên những cây pháo trò luôn đòi hỏi một trình độ kỹ thuật cực kỳ cao (bao gồm kỹ thuật pha chế thuốc pháo, cách tạo màu sắc ánh sáng cho đến việc tiếp nối chuẩn xác giữa các tầng để tạo ra sự cháy dây chuyền liên tục). Trò chơi này cũng đòi hỏi sự điêu luyện trong tay nghề cùng óc thẩm mỹ phong phú của nghệ nhân khi tạo hình các “con rối diễn trò” bằng sự kết hợp của ánh sáng, âm thanh và màu sắc.

Các nghệ nhân làng nghề luôn không ngừng tìm tòi, tư duy sáng tạo nhằm đưa vào những kỹ thuật mới, những hình ảnh mới độc đáo, giúp cho chất lượng năm sau luôn cao hơn năm trước. Mục tiêu lớn nhất của họ là hướng tới danh hiệu cao quý “Vua pháo trò” – một niềm vinh dự lớn lao không chỉ dành riêng cho bản thân nghệ nhân mà còn cho cả toàn thể làng nghề Bình Đà. Có thể khẳng định, thi pháo trò là một trò chơi mang đậm tính văn hóa và chứa đựng hàm lượng sáng tạo rất cao.