Tìm hiểu bộ chấp kích trong không gian thờ tự cổ truyền Việt Nam

Tìm hiểu bộ chấp kích trong không gian thờ tự cổ truyền Việt Nam đồ chấp kích thường được bố trí ở hai bên tả hữu. Đây là những hiện vật xuất hiện khá phổ biến tại các điện thờ từ giai đoạn thế kỷ XVIII trở về sau. Chúng được đục chạm bằng chất liệu gỗ, cắm cố định vào giá theo phương thẳng đứng. Bước sang thế kỷ XIX, phần mũi của chấp kích được chế tác bằng đồng kết hợp cán gỗ, xếp vào giá và cắm xòe ra tương tự hình nan quạt. Vào khoảng cuối thế kỷ XIX cho đến cuối thế kỷ XX, nhiều bộ chấp kích lại được làm với kích thước rất nhỏ, chiều cao chỉ chừng 30 cm nhằm mục đích trang trí. Đối với loại chấp kích sở hữu phần mũi bằng đồng, người ta thường đặt trang trọng ở phía trước ban thờ.

Nhìn chung, sự hiện diện của chấp kích chỉ gắn liền với những vị thần linh sở hữu nhiều chiến công hiển hách. Thời gian càng về sau, cổ vật này càng mang xu hướng thiêng hóa vai trò của vị thần. Trong hệ thống đồ thờ tự, chấp kích đóng vai trò là những tác phẩm nghệ thuật nhiều hơn là công cụ mang tính chất vũ khí. Tại nước ta, việc sử dụng chấp kích làm đồ thờ bắt đầu từ triều đại nào thì đến nay vẫn chưa thể xác định chính xác. Giới nghiên cứu hiện chỉ mới tìm thấy lưỡi phủ việt bằng gỗ được xem là có niên đại sớm nhất, thể hiện theo lối chạm nổi trên lưng chiếc ghế tại chùa Thầy (Hà Tây – năm 1346) và một lưỡi mang đậm phong cách nghệ thuật thời Mạc đang đặt ở đền Lê Hoàn tại Thọ Xuân (Thanh Hóa).

Chiếc phủ việt tính cả phần cán có chiều cao gần 2m, sở hữu một lưỡi xén dáng lưỡi trai được nhả ra từ đầu một con rồng. Những đường nét hoa văn trang trí trên hình tượng rồng đã giúp các nhà nghiên cứu xác nhận được niên đại tương đối của hiện vật này. Đến thế kỷ XVII, đồ chấp kích có sự chuyển hóa mạnh mẽ để trở thành các tác phẩm nghệ thuật đặc biệt. Điển hình tại đền vua Đinh (Hoa Lư – Ninh Bình), lưỡi phủ việt lúc này chỉ còn thu lại như một vành trăng khuyết. Phần họa tiết trang trí liên quan là một con rồng được tạo tác khá lớn theo bố cục rồng mẫu tử. Con rồng lớn này là rồng lửa, đang há miệng ngậm lấy phần đuôi của lưỡi phủ việt, đồng thời phun ra những vầng lửa thành ngọn ngay trên nền lưỡi. Thân rồng uốn lượn lộn xuống phía dưới rồi ngược phần đuôi lên trên, điểm xuyết xung quanh là bốn con rồng nhỏ bám chặt lấy thân rồng lớn, ẩn hiện giữa các lớp đao mác. Phần đỉnh của phủ việt được tạo hình thành ba mũi giản nhọn.

Tại không gian đền vua Lê, hiện vật này gần như biến đổi hoàn toàn thành một tác phẩm được đục chạm cực kỳ tinh xảo theo các lối chạm nửa nổi, chạm bong và chạm thủng. Ở đây, phủ việt cũng lộ ra từ miệng rồng, được thể hiện cân đối với hình thể rồng trong một kết cấu đăng đối. Trên bề mặt lưỡi phủ việt cũng được chạm khắc dày đặc hệ thống mây và đao mác. Toàn bộ bố cục của lưỡi phủ việt gần như đã chuyển hóa thành một hiện vật mang tính đối xứng qua đề tài rồng mẫu tử, hổ phù… Cổ vật này chính là sản phẩm tiêu biểu của nền nghệ thuật vào nửa đầu thế kỷ XVIII. Nằm trong bộ chấp kích tại đền vua Đinh còn có một chiếc “trùy”. Những hoa văn trang trí hình rồng cùng các linh vật trên thân trùy được tạc tròn, bám dọc hai bên và tại báo góc. Lối tạo tác này đã biến chiếc trùy thuần túy trở thành một tác phẩm mỹ thuật, làm mờ nhạt đi hoàn toàn công năng vũ khí của nó. Tại ngôi đình thuộc làng Hạ Hồi (Thường Tín), chúng ta cũng bắt gặp một thanh đại đao mà phần chuôi đao là thớ hình một con rồng trúc hóa lớn, đi kèm những dải đao mác tương đối dài mang phong cách nghệ thuật đặc trưng khoảng giữa thế kỷ XVII.

Sự Tiến Hóa Của Bộ Chấp Kích Qua Các Thời Kỳ

Đến thế kỷ XIX, bộ chấp kích vẫn tiếp tục được chế tạo bằng chất liệu gỗ nhưng có kiểu dáng đơn giản hơn, quay trở lại gần gũi với đặc tính của vũ khí thực chiến. Đối với những bộ chấp kích đúc bằng đồng, chính phom dáng của từng loại binh khí đã tự tạo nên một sự hòa hợp tổng thể giàu chất mỹ thuật. Phần trên của mỗi hiện vật đều mô phỏng lại hình bóng của các loại vũ khí thời cổ đại. Chúng thường được tăng thêm sự linh thiêng, huyền bí nhờ sự bảo trợ từ một đầu rồng ngậm chặt vào phần cuống. Về giai đoạn sau này, các chi tiết mang tính nghệ thuật như đầu rồng bị giảm bớt, thay vào đó người ta thường thay thế bằng bộ phận trụ ống dáng con tiện để cắm trực tiếp vào đầu gậy.

Thông qua việc khảo sát các bộ chấp kích còn lưu giữ tại đền Ngọc Sơn, đền Quán Thánh cùng nhiều di tích lịch sử khác, chúng ta có thể rút ra kết luận rằng chấp kích thường bao gồm tám loại tiêu biểu trong số các binh khí cổ, có thể kể đến như: trùy, phủ việt, qua, đại đao, long câu, gậy (hoặc trượng), giản ba mũi, thương, kích, xà mâu, quyền, kiếm, và đôi khi xuất hiện cả gươm trường hay mác

Tại không gian của nhiều di tích gắn liền với các vị thần linh có công lao chiến trận, đôi khi người xưa còn bài trí cả một chiếc giá đỡ chứa nhiều thanh gươm đặt nằm ngang. Về sau này, tại các địa điểm thờ tự còn xuất hiện thêm cả loại giá dùng để gác súng hỏa mai.