1. Tết Trung Thu (Ngày 15 Tháng 8 Âm Lịch)
Tết Trung Thu là nét đẹp văn hóa lâu đời, diễn ra vào đêm rằm tháng 8 âm lịch. Đây là dịp để mọi người, đặc biệt là các em nhỏ, cùng nhau thưởng ngoạn trăng rằm, phá cỗ và tham gia các hoạt động ca hát, vui chơi náo nức dưới ánh trăng.
Mâm cỗ ngày 15 tháng 8 phần lớn gồm hoa quả, mía ngọt, bánh trái và hương hoa nên khâu sửa soạn tương đối nhẹ nhàng.
Người dân thường mua sắm tại các tiệm bánh cổ truyền những cặp bánh nướng, bánh dẻo thơm ngon; ghé chợ chọn từng nải chuối tiêu, quả bưởi mọng nước, quả hồng đỏ hay từng gióng mía ngọt lành.
Nhiều người còn tìm mua cốm mộc giã tay hoặc bánh cốm non để thưởng thức trọn vẹn dư vị đầu thu; những gia đình có điều kiện hay chu đáo hơn sẽ nấu thêm đĩa xôi dẻo, bát chè ngọt…
Khi hoàng hôn dần buông và ánh trăng rằm bắt đầu tỏa rạng, mâm cỗ được bày biện trang nghiêm lên bàn thờ. Lúc này, gia chủ thành kính thắp nén nhang thơm dâng lên Gia thần, Tiên tổ cùng về vui tết đoàn viên với cháu con.
2. Những Huyền Thoại Và Tích Cổ Về Đêm Rằm Trung Thu
Huyền thoại dân gian kể rằng vào một đêm rằm tháng tám trời trong gió mát, vua Đường Minh Hoàng dạo chơi thưởng nguyệt đến tận đêm khuya thì bất ngờ hội ngộ một nàng tiên, được mời du ngoạn lên cung Quảng Hàn chiêm ngưỡng cảnh bồng lai. Đứng trước cảnh sắc tuyệt mỹ và vũ khúc tiên nữ mê hoặc lòng người, nhà vua vô cùng xúc động. Khi tiến vào cung trăng, người thấy tấm biển đề bốn chữ “Quảng Hàn cung” và “Thanh hư động”.
Cuộc vui chưa dứt thì Đường Minh Hoàng đã phải quay về hoàng cung trần thế. Vấn vương những khoảnh khắc say đắm chốn tiên cảnh, vua bèn đặt lệ đón Tết Trung Thu hàng năm để thần dân cùng uống rượu, ngắm trăng. Từ đó, cung trăng còn được gọi là cung Quảng Hàn hay cung Quảng.
Đêm hội trăng rằm, bên mâm cỗ ngọt ngào, người ta thường râm ran kể cho nhau nghe những câu chuyện về vầng trăng. Trăng tượng trưng cho Thái Âm, là cõi thanh lương mát lạnh ẩn chứa bao điều tốt lành với hình ảnh Thỏ Ngọc, cây đa và chú Cuội.
Sự Tích Thỏ Ngọc (Ngọc Thỏ)
Thuở xa xưa nhân loại và muôn loài lâm vào cảnh cơ hàn đói khổ cùng cực. Thú dữ tàn sát lẫn nhau nhằm duy trì sự sống, riêng bầy thỏ nhỏ bé đành nép mình trong hang tối chờ tử thần đến.
Giữa cơn đói rét, một bầy thỏ ngồi quanh đống lửa nhìn nhau ứa lệ. Thương xót đồng loại khốn cùng, một chú thỏ đã dũng cảm gieo mình vào biển lửa để làm thức ăn cứu sống cả đàn.
Đúng lúc ấy Đức Phật đi qua, cảm động trước nghĩa cử cao đẹp vô bờ, Ngài gom lấy nắm xương tàn rồi hóa phép tạo nên chú Thỏ Ngọc tỏa ngát hương thơm. Sau đó, Ngài gửi gắm Thỏ Ngọc cho Thái Âm thần nữ trông nom nơi cung Quảng Hàn.
Kể từ ấy, hễ nhắc đến cung trăng là nhớ ngay chị Hằng Nga cùng Thỏ Ngọc. Nhiều làng quê vì mến mộ đức tính nhân ái của loài vật này đã lấy tên Ngọc Thỏ hoặc Thụy Thỏ (thỏ lành) để đặt tên cho quê hương mình.
Sự Tích Chú Cuội Ngồi Gốc Cây Đa
Quan sát vầng trăng đêm rằm, người trần gian nhìn thấy bóng dáng một cây đại thụ cùng người đàn ông ngồi tựa gốc cây. Trong khi điển tích Trung Hoa cho rằng đó là cây Đàn Quế cùng chàng Ngô Cương đang chịu hình phạt đốn cây của nhà Trời, thì kho tàng truyện cổ tích Việt Nam lại gắn liền với hình tượng chú Cuội:
Cuội vốn là kẻ quen thói dối trá, bị miệng đời chê bai qua câu cửa miệng “Đi nói dối cha, về nhà nói dối chú”.
Một ngày nọ, Cuội xin được cây đa quý từ một ông lão đem về trồng ở hướng Đông ngôi nhà. Lão dặn dò kỹ lưỡng không được phóng uế gần gốc.
Ngặt nỗi, người vợ đã vô ý quên mất lời căn dặn khiến cây đa bật gốc rồi từ từ bay vút lên trời. Đi làm về bắt gặp, Cuội vội vàng lấy cuốc bổ vào gốc nhằm kéo cây lại, nhưng chẳng ngờ bị luồng gió cuốn thẳng lên cung trăng.
Đó là lý do mỗi mùa trăng tròn, nhân gian lại thấy bóng cây đa cùng chú Cuội ngồi lặng lẽ trên ấy.
Những giai thoại kỳ ảo này vừa mang tính răn dạy đạo lý làm người sâu sắc, vừa là câu chuyện rôm rả bên mâm cỗ thanh mát đêm trăng.
3. Phong Tục Rước Đèn, Phá Cỗ Và Nét Đẹp Đón Tết Trung Thu Của Người Việt
Bên cạnh nghi thức cúng gia tiên, thưởng nguyệt và nghe tích cổ, đêm hội Trung Thu còn rực rỡ sắc màu bởi những chiếc đèn lồng ông sao, đèn kéo quân, đèn cá chép cùng các tiết mục múa sư tử, hát trống quân rộn rã.
Đêm rằm tháng Tám cũng là ngày hội lớn của thiếu nhi khi các cấp xã, phường đứng ra tổ chức biểu diễn văn nghệ và phát quà bánh, mang lại niềm vui lớn cho trẻ thơ, đặc biệt là những mảnh đời mồ côi hay khuyết tật.
Tục ăn Tết Trung Thu xuất hiện tại Việt Nam từ thời kỳ Bắc thuộc. Ban sơ, ngày hội này chủ yếu dành cho người lớn: ban ngày chuẩn bị mâm cỗ cúng ông bà tổ tiên, đêm về bày cỗ ngọt gồm hoa trái và bánh nướng bánh dẻo để cùng ngắm trăng thanh.
Thời xưa, vào tiết trời thu êm dịu, người dân thường sắm sửa lễ vật tươm tất dâng cúng Trời Đất tại đền, miếu, đình làng hoặc chùa chiền.
Trong từng nếp nhà, gia chủ sửa soạn mâm cúng Thành Hoàng, Thổ Công và Gia tiên vào ban ngày; ban đêm lại quây quần bên bàn tiệc ngọt ngào với các loại bánh trung thu tròn vành vạnh như mặt trăng để ngâm thơ vịnh cảnh.
Qua thời gian, Tết Trung Thu dần chuyển mình thành ngày hội vui tươi dành riêng cho lứa tuổi thanh thiếu niên và nhi đồng.
4. Hướng Dẫn Sắm Lễ Cúng Gia Tiên Dịp Tết Trung Thu
Khi chuẩn bị mâm cúng dâng lên bàn thờ gia tiên ngày rằm tháng Tám, ngoài những món ăn truyền thống, gia chủ cần sửa soạn đầy đủ các lễ vật sau:
- Bánh trái dâng lễ: Bánh nướng, bánh dẻo, cốm tươi, chuối chín, quả na, quả hồng, bưởi mọng nước…
- Hương đăng hoa phẩm: Nhang thơm, hoa tươi, đèn dầu hoặc nến.
Đồng thời, dịp Tết đoàn viên này còn là cơ hội tuyệt vời để con cháu thể hiện lòng hiếu kính, trao gửi bánh Trung Thu, cốm xanh cùng những thức quà ngọt ngào biếu tặng ông bà, cha mẹ và những ân nhân đã giúp đỡ mình trong cuộc sống.

Bài viết liên quan
Khám phá Đền Ngọc Sơn Hà Nội: Kiến trúc, lịch sử
Tìm hiểu những nét khái quát về Đền Thờ cổ truyền Việt Nam
Khám phá các ngôi đình làng nổi tiếng
Quy trình nghi lễ thờ cúng tại Đình chuẩn nghi lễ cổ truyền
Bài Văn Khấn Ở Đình, Đền, Miếu, Phủ chuẩn nghi lễ truyền
Bài Văn Tế Thành Hoàng Ở Đình Chuẩn Nghi Lễ Cổ Truyền
Văn Khấn Cho Gia Chủ Bán Khoán Con Vào Chùa Chuẩn Nghi Lễ
Văn Khoán Khấn Mại Đồng Tử Chuẩn Nghi Lễ Cổ Truyền
Văn khấn Cầu Siêu cho Gia Tiên và phong tục đi lễ chùa
Bài văn khấn trước Chính Điện Tam Bảo