Vật là một hoạt động tranh tài nâng cao sức khỏe và mang lại niềm vui dành cho nam giới, trong đó hai đối thủ tham gia được gọi là các đô vật. Hoạt động thi đấu này còn được biết đến với những tên gọi khác như đấu vật, đánh vật hay chơi vật. Đây là loại hình diễn xướng dân gian xuất hiện phổ biến tại rất nhiều hội xuân khắp các vùng miền Bắc và miền Trung. Những đô vật sở hữu tài năng kiệt xuất hoặc có vị thế bậc thầy thường được người dân tôn kính phong danh hiệu “Trạng vật”. Tại những địa phương tập trung đông đảo người giỏi vật, hoặc sở hữu các cơ sở đào tạo bài bản với thầy dạy chuyên nghiệp, các địa điểm đó sẽ được gọi là lò vật. Trước đây, hầu như địa phương nào cũng tổ chức hoạt động này, tiêu biểu như Phú Thọ, Bắc Ninh, Hà Tây, Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên, Thanh Hóa… Tùy thuộc vào phong tục từng nơi, vật có thể đóng vai trò là một tiết mục trong khuôn khổ lễ hội, hoặc thi đấu vật sẽ là toàn bộ nội dung cốt lõi của hội làng, điển hình như trường hợp hội Vật võ Liễu Đôi tại Hà Nam.
Yêu cầu rèn luyện thể chất để dựng làng và giữ nước đóng vai trò vô cùng quan trọng từ ngàn xưa, chính vì thế môn vật võ dần chuyển mình thành một bộ môn thể thao truyền thống đậm chất tinh thần thượng võ. Bộ môn này sở hữu sức hấp dẫn lớn không kém cạnh gì các môn đấu côn, đấu kiếm hay đua thuyền. Dẫu vậy, để giành chiến thắng trong môn vật, các đô vật không chỉ dựa duy nhất vào sức mạnh cơ bắp mà còn phải am hiểu tường tận phương pháp thi đấu, được gọi chuyên môn là “thế” và “miếng”. Không gian diễn ra các cuộc so tài thường là những khoảng sân rộng rãi, các bãi cỏ mịn hoặc vùng đất bằng phẳng nằm ngay trước sân đình, nơi này được gọi là “sới vật”. Trang phục của các đô vật tham gia tương đối tối giản: thông thường họ sẽ đóng khố màu (trong bối cảnh hiện đại đã thay thế bằng quần đùi), để mình trần, đầu trần hoặc thực hiện quấn khăn đầu rìu.
Nghi Lễ Khởi Động Và Sự Điều Hành Trong Sới Vật
Giai đoạn mở màn của mỗi cuộc đấu thường bắt đầu bằng nghi thức trình thánh trang nghiêm. Các cặp đô vật sẽ đi song hành cùng nhau vào bên trong đình để làm lễ bái trước hương án. Kế tiếp là màn “vật lễ” được thực hiện bởi các đô vật của địa phương mang tính chất khai mạc, kích hoạt không khí lễ hội, sau đó các màn đấu vật chính thức mới thực sự bắt đầu. Khi tiếng trống lệnh vang lên, hai đô vật lập tức hạ thấp trọng tâm vào thế thủ. Thời gian đầu họ sẽ triển khai màn “vật vờn” để bái kính thánh thần, sau đó mới chính thức bước vào giai đoạn “vật khảo” nhằm đấu loại trực tiếp ở các vòng phân định. Trong trường hợp cuộc đối đầu diễn ra ngay tại khu vực sân đình, hội đồng ban giám khảo sẽ ngồi tập trung trên hàng ghế bố trí ở hiên đình để tiện quan sát. Bên cạnh ban giám khảo, sân vật còn có sự xuất hiện của hai người điều hành trực tiếp bao gồm một người phụ trách đánh trống và một người đảm nhận phất cờ. Tiếng trống đóng vai trò là ngôn ngữ hiệu lệnh: khi vang lên 3 tiếng trống thong thả thì đó là hiệu lệnh gọi các đô vật vào sới; khi thúc liên tục 3 tiếng nghĩa là giục các đô vật tăng tốc độ, thi đấu dồn dập hơn; khi nhận thấy không gian xung quanh có sự ồn ào, mất trật tự thì người điều hành sẽ gõ vào tang trống theo nhịp hai tiếng một để trương tuần xuất hiện thiết lập lại kỷ cương; cuối cùng, nếu một hồi trống dài vang lên từ tang trống thì đó là tín hiệu kết thúc hoàn toàn keo vật.
Hệ Thống Miếng Võ Truyền Thống Và Luật Chơi Nghiêm Ngặt
Khi bước chân vào sới vật, những đô vật sở hữu tài hoa xuất chúng thường phô diễn các miếng đánh vừa đảm bảo tính thẩm mỹ, đẹp mắt, vừa thể hiện sự quyết liệt và tinh thần nghiêm túc. Chúng ta có thể nghiên cứu trường hợp hội vật Liễu Đôi để nhận diện rõ nét các miếng võ truyền thống mang đậm bản sắc địa phương trong môn thi đấu này:
- Xốc nách: Đô vật luồn tay vào nách của đối thủ, thực hiện nhấc bổng đối phương lên rồi đệm ngã xuống sàn.
- Vạch sườn: Động tác ghì chặt phần lưng hoặc cánh tay của đối phương, sau đó phối hợp đệm ngoài.
- Miếng bò: Đô vật chủ động nằm thụp sát xuống mặt đất, kiên nhẫn chờ đợi đối phương lộ ra sơ hở để bất ngờ phản công.
- Miếng háng: Luồn tay sâu vào háng đối thủ, tìm kiếm điểm tựa và lựa thế để nhấc bổng rồi quật ngã hoàn toàn.
- Miếng táng: Kỹ thuật dùng lực nâng bổng toàn bộ cơ thể đối thủ lên cao.
- Miếng gồng: Đây là sự kết hợp tổng hòa của hệ thống “ngũ hiểm”, bao gồm năm kỹ thuật: cướp hiểm, nút hiểm, quay hiểm, lẳng hiểm và đệm hiểm.
- Miếng bốc: Đô vật thò tay vào háng, ôm chặt và bế thốc đối thủ lên trên.
- Miếng càn: Sử dụng ưu thế thuần túy về mặt sức khỏe cơ bắp để áp chế và đảo ngược thế cờ trước đối thủ.
- Chớp đảo ngã ba: Động tác bất ngờ chộp lấy vị trí ngã ba khố của đối phương, sau đó vận dụng thế lực để quật ngã.
Mỗi một vùng đất, các đô vật lại có xu hướng thuần thục và giỏi giang ở một số ngón đòn riêng biệt, điều này được dân gian đúc kết qua câu nói: “miếng sườn Bổng Lạng, miếng háng Liễu Đôi”. Tầm quan trọng của các ngón đòn này lớn tới mức có câu thành ngữ: “Đô vật mười năm phải nằm vì mất miếng”. Xét về luật chơi, các miếng đánh mang tính chất hiểm độc đều bị nghiêm cấm hoàn toàn, nhằm loại bỏ yếu tố ăn thua tiêu cực, thù địch hay sát hại lẫn nhau gây nguy hiểm trực tiếp đến tính mạng con người. Cụ thể, luật vật quy định cấm các hành vi như “móc hàm”, “móc nách”, “móc xương quai xanh”, “nắm tóc”, “nắm yết hầu” hay “bóp hạ bộ”. Bất kỳ ai cố tình vi phạm những điều cấm này đều phải đối mặt với hình thức xử lý nghiêm khắc như bị trục xuất ra khỏi sới, chịu cảnh cáo, bị đình chỉ thi đấu trong một số năm, đồng thời phải nhận lấy sự chê cười, chỉ trích từ cộng đồng.
Để được tuyên bố là người chiến thắng cuộc, đô vật bắt buộc phải thực hiện được đòn đánh khiến đối phương lâm vào thế “lấm lưng, trắng bụng” (nghĩa là nằm ngửa lưng chạm đất) hoặc nhấc bổng hoàn toàn cơ thể đối thủ rời khỏi mặt đất. Cơ cấu giải thưởng dành cho các đô vật vô cùng phong phú, bao gồm các hạng mục giải chính, giải phụ, giải thưởng khích lệ cho từng hiệp đấu riêng biệt và giải chung cuộc tối cao dành riêng cho người duy trì thành tích toàn thắng suốt các ngày diễn ra lễ hội. Trong trường hợp một đô vật giữ vững vị trí giải nhất mà xuyên suốt hội không có bất kỳ ai đến thách đấu hoặc phá nổi thì sẽ được nhận “giải cạn”. Riêng tại hội vật võ Liễu Đôi, quy định trao thưởng có sự khác biệt rõ rệt khi giải thưởng được phân tách thành 3 loại cụ thể: giải cọc, giải thứ và giải cuộc. Giải cọc là danh hiệu cao nhất hội, phần thưởng này trao cho người đánh bại toàn bộ các đô vật tham gia. Giải thứ bao gồm 3 thứ hạng phân cấp là nhất, nhì và ba. Cuối cùng, giải cuộc là phần quà tặng dành cho tất cả các đô vật có tinh thần thể thao tham gia vào dòng thi đấu, không phân biệt kết quả thắng hay bại. Hội vật Liễu Đôi sở hữu danh tiếng lẫy lừng đi kèm một truyền thống bền vững cùng thời gian, đúng như câu thơ cổ:
“Ngàn năm vật võ đua tài,
Vạn năm sông rộng, núi dài tổ tiên”.
Những Sới Vật Vang Danh Từ Bắc Vào Trung
Hội vật làng Mai Động (Thăng Long – Hà Nội)
Tại vùng đất Thăng Long ngàn năm văn hiến, hội vật làng Mai Động (hiện thuộc quận Hai Bà Trưng) là một điểm sáng văn hóa vô cùng nổi tiếng. Theo lời kể truyền lại trong dân gian, nữ tướng tiên phong Lê Chân dưới thời Hai Bà Trưng năm xưa đã chủ động mở hội vật này với mục đích tuyển chọn những binh lính và tướng lĩnh có thể lực tốt nhất. Sau đó, đô vật Nguyễn Tam Trinh, một người con có xuất thân từ Thanh Hóa khi đặt chân đến vùng đất Mai Động, nhận thấy nơi đây có địa thế vượng phát nên đã quyết định dừng chân lập nghiệp, mở lò dạy vật võ. Khi cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng bùng nổ, ông đã đứng ra tuyển mộ binh quân và cùng các môn đệ tìm đến xin tụ nghĩa, chung tay đánh đuổi quân xâm lược. Xuất phát từ gốc tích lịch sử đó, hội vật làng Mai Động được duy trì tổ chức đều đặn hằng năm nhằm mục đích tưởng niệm sâu sắc công ơn của đô sư kiêm tướng quân Nguyễn Tam Trinh.
Hội vật làng Sình (Thừa Thiên – Huế)
Dịch chuyển vào dải đất miền Trung, hội vật làng Sình là một cái tên vô cùng vang danh. Cứ đến ngày mùng 10 tháng giêng hằng năm, tại khu vực đình Sình thuộc xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế, người dân trong làng lại nô nức mở hội và trò chơi đấu vật là nội dung không thể thiếu. Sau khi hoàn tất các nghi thức tế thần trang trọng, tại đây có một phong tục độc đáo mang tên “thả lồng giấy”. Chiếc lồng này có phần khuôn được đan bằng các thanh tre mảnh, tạo hình tròn tương tự như cái sọt và để rỗng ở cả hai đầu, kích thước đường kính rơi vào khoảng 60 cm kèm chiều dài dao động từ 80 đến 100 cm. Vị trí đầu phía dưới để hở có thiết kế hai thanh tre bắt chéo hình chữ thập, đây là nơi cố định một chiếc ống nhỏ chứa dầu hỏa. Toàn bộ phần xung quanh và phần đầu trên của lồng được bao bọc kín bằng giấy. Khi người ta tiến hành đốt đèn, lượng hơi nóng tích tụ bên trong sẽ tạo ra lực đẩy chiếc lồng bay vút lên cao, trông giống như một quả kinh khí cầu mini lơ lửng giữa tầng không. Ngay khi lồng giấy cất cánh bay lên, một tràng pháo hiệu sẽ nổ vang, đánh dấu thời điểm hội vật chính thức bắt đầu.
Có một điểm tương đồng đặc biệt với hội vật võ Liễu Đôi (Nam Hà), hội vật tại làng Sình luôn áp dụng quy tắc ưu tiên cho các đối tượng thiếu niên tham gia thi đấu trước. Giai đoạn này hoàn toàn là những trận tranh tài chính thức có tính điểm rõ ràng chứ không đơn thuần là màn đấu biểu diễn lấy lệ. Sau khi các trận đấu của lứa tuổi thiếu niên khép lại, sới vật mới tiếp tục nhường chỗ cho các đô vật lớn tuổi hơn bước vào cuộc so tài. Quy định này phản ánh một mỹ tục tốt đẹp, thể hiện ý thức truyền nối sâu sắc, quyết tâm kế thừa nghề nghiệp cũng như gìn giữ trọn vẹn các giá trị truyền thống văn hóa quý báu của cha ông để lại.
