Kiến trúc đình, đền và đồ thờ cúng truyền thống Việt Nam

Kiến trúc đình, đền và đồ thờ cúng truyền thống Việt Nam thần và thành hoàng từ xưa đã được thờ tự tại các đền, đình, nghè, miếu. Trong thời kỳ cổ đại, người Việt có phong tục thờ thần ở Cây Đa và các Hòn Đá. Trước khi được đưa vào thờ ở đình, thần và thành hoàng vốn được bái tế tại nghè, đền, miếu. Nhiều nhà nghiên cứu nhận định rằng đình bắt đầu xuất hiện ở vùng Bắc bộ vào đời nhà Trần. Thuở ban đầu, đình được dùng làm chỗ nghỉ chân cho vua quan khi đi thị sát dân tình, đóng vai trò là nơi đình trạm phục vụ giao thông, truyền tin tức mệnh lệnh của triều đình đến các địa phương. Về sau, nơi này mới trở thành nơi thờ thành hoàng, đồng thời là một công sở, không gian hội họp của các chức dịch và dân làng. Trước Cách mạng tháng Tám, đình làng Việt Nam là nơi thờ tự thành hoàng làng, đóng vai trò là trung tâm sinh hoạt chính trị, xã hội và văn hóa của cộng đồng dân cư.

Quy hoạch kiến trúc và thuyết phong thủy trong xây dựng đình làng

Trong các làng quê, đình là công trình kiến trúc có quy mô to lớn nhất. Theo quan niệm của người xưa, ngôi đình có tầm quan trọng đặc biệt, ảnh hưởng trực tiếp tới sự thịnh vượng và sức khỏe của tất cả dân làng. Do đó, dựng đình là việc chung của cả làng. Một yếu tố tối quan trọng khi xây dựng ngôi đình chính là hướng đình. Ca dao cũ có câu:

“Toét mắt là tại hướng đình, cả làng cùng toét riêng mình em đâu”

Câu ca dao trên đã chứng minh ý nghĩa quyết định của việc chọn hướng đình. Hướng của đình làng thậm chí còn trở thành hướng quy hoạch cho các ngôi nhà trong làng, các công trình nhà ở hoặc sẽ làm song song theo hướng đình, hoặc làm vuông góc. Dân làng kị nhất là xây dựng nhà hướng thẳng vào các góc đao của đình làng. Hướng của các ngôi đình thường quay về hướng nam nhằm thích ứng với môi trường tự nhiên và khí hậu nhiệt đới ở nước ta.

Bên cạnh hướng đình, vị trí thế đất nơi xây dựng cũng được cân nhắc kỹ lưỡng. Khi chọn hướng và thế đất xây đình, người xưa tin vào thuyết phong thủy. Đình phải được xây dựng trên lưng hoặc trên trán của các con vật thiêng tiềm ẩn trong đất như long, li, quy, phượng. Đình thường được chọn xây trên một gò cao, một doi đất, trước mặt có dòng nước chảy hoặc hồ ao. Nếu địa hình không có sông ngòi tự nhiên, người dân sẽ đào giếng, đào hồ để tạo nên cảnh nước non. Những câu tục ngữ về thế đất chọn làm đình như:

“Thè lè lưỡi trai chẳng sai được nó. Khum khum gọng vó, chẳng nó thì ai”

Đây là những tổng kết dân dã về thế đất “tự phúc, tự thủy”, vốn là những vị trí tốt nhất để xây dựng đình làng. Đình làng thường được xây ở rìa làng, không gian thoáng đãng trên một khu đất cao rộng, nhà cửa của dân làng chỉ được phép ở sau lưng chứ không được nằm ở phía trước đình.

Cấu trúc khung gỗ và nét độc đáo của bộ mái đình

Đình làng ban đầu có lẽ chỉ là một kiến trúc nhỏ gồm 3 gian và 2 chái. Sau đó, số gian tăng lên đến 5, 7 hay 9 gian (luôn là số lẻ) và cộng thêm kiến trúc phía sau gọi là hậu cung, thêm phía trước gọi là tiền tế, thêm hai bên gọi là tả vu và hữu vu. Ban đầu xung quanh đình chưa bịt kín, nhưng về sau để tôn nghiêm thần thánh, người dân xây bao kín quanh kiến trúc và chỉ để mở cửa phía trước. Đặc biệt ở khu vực hậu cung thì xây bịt kín tối như bưng, vì đây là nơi thần thánh ngự trị.

Về bản chất, đình làng vốn là một kiến trúc mở không có tường bao quanh. Kiến trúc gỗ cổ truyền này dựa trên hệ khung các cột gỗ chịu lực, các vì kèo và hoành phân đều lực cho các cột cái cùng cột quân kê trên các đá tảng. Các cửa bức bàn và các hàng chấn song con tiện phía trước được làm để thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ, còn các bức tường bao quanh nhằm linh thiêng hóa thần linh thực chất được làm bổ sung về sau.

Một điểm đặc biệt là các ngôi đình đều có cấu kết mái đình với góc mái cong, người ta gọi là đao mái. Góc mái cong có thể coi là một sáng tạo đầy tính nghệ thuật của đình làng Việt Nam, trở thành một đặc trưng độc đáo khiến kiến trúc gỗ truyền thống Việt Nam khác biệt với kiến trúc gỗ của các nước khác trong khu vực. Những ngôi đình cổ thường có bộ mái lớn chiếm đến 2/3 toàn bộ công trình. Theo một nhà nghiên cứu, tỉ lệ này có lẽ bắt nguồn từ ngôi nhà cổ truyền của người Việt mà sứ nhà Nguyên là Trần Phú từng lấy làm ngạc nhiên:

“Làm nhà không có kiểu gấp mái hoặc chống kèo mà từ đòn dông đến mái hiên cứ thẳng tuột một mạch như đổ hẳn xuống (vì vậy) tuy nóc nhà (tuy hết sức) cao nhưng mái hiên chỉ cách mặt đất chừng bốn năm xích”.

Trong điều kiện của một xứ sở lắm mưa nhiều nắng, đó là hình thức thích nghi tốt nhất cho công trình kiến trúc. Bộ mái không chỉ thuần túy có công năng che mưa chắn nắng mà còn thực hiện được cả việc điều khiển, hóa vi khí hậu trong lòng công trình. Để đạt được cách xử lý thông minh này, chắc hẳn người Việt đã phải trải qua một quá trình chọn lọc văn hóa kiến trúc lâu dài.

Các đao mái đình vút cong ở bốn góc mái làm cho hai mái đình trở nên thanh thoát, nhẹ nhàng. Mặt ngoài của các đầu đao được gắn đắp các hình rồng sinh động. Hai đầu bờ nóc thường được đắp vênh lên như mũi thuyền, bên trên thường đắp hình rồng chầu mặt nguyệt. Các bờ giải ở hai mái cũng được đắp gắn các mảnh sứ hình các con vật trong tứ linh hoặc gắn các con nghê sành nung. Các đầu đao mái đình thực sự đã gợi nên vẻ uyển chuyển, mềm mại cho ngôi đình to lớn, cùng với những cây đa cổ thụ tạo nên một biểu tượng thân thiết của làng quê Việt Nam.

Nghệ thuật điêu khắc, chạm trổ và không gian đại bái

Mỗi ngôi đình làng còn là một công trình điêu khắc, chạm trổ và sơn vẽ tinh xảo. Chất liệu sử dụng là loại sơn ta cổ truyền với 3 màu chủ đạo: đen, đỏ và vàng. Người nghệ nhân thường chạm trổ ở các câu đầu, các cột giá chiêng, các đầu bảy, các ván trong lòng giá chiêng… với những hình đầu rồng, đuôi rồng, con nghê, vân mây, hoa lá, cùng các cảnh sinh hoạt văn nghệ đời sống hàng ngày rất sinh động. Những cột cái ở trung đình thường được sơn vẽ hình rồng mây làm cho ngôi đình thêm rực rỡ, trang trọng, gợi lên ý niệm đây là nơi cung điện uy nghiêm của thần thánh. Các ngôi đình thường ghi ngày, tháng, năm khởi công xây dựng và hoàn thành ở xà nóc hoặc ở hai câu đầu trung đình.

Tại trung đình đều có lắp một cửa võng sơn son thếp vàng làm cho không gian đình sáng lên lộng lẫy. Cửa võng là một bức rèm bằng gỗ được chạm trổ rất công phu, gắn vào hai cột và hoành ở trung đình, ngay nơi đặt bàn thờ thành hoàng. Hai bên cửa võng là những bức hoành phi ca ngợi công đức của thần, được sơn son thếp vàng hoặc khảm trai do các kỳ hào trong làng hoặc các quan viên cúng tiến. Trên các cột đình còn có nhiều câu đối cũng nhằm mục đích tưởng nhớ và ca ngợi công đức của thần linh.

Có những ngôi đình trước kia làm ở nơi đất trũng hoặc ở bờ sông, bị nước xói lở bào mòn, ngập lụt hoặc có nguy cơ sắp đổ, người dân đã sáng tạo ra biện pháp thủ công để kiệu, nâng đình lên cao dần dần, tiêu biểu như đình Chèm ở ngoài bãi sông Hồng. Người dân đã dỡ mái ngói cho nhẹ bớt, đánh đai các cột đình thành một khối thống nhất, sau đó dùng đòn bẩy kích dần các cột cùng một lúc lên cao độ 5 – 6cm, kê các cột lên và tôn nền lên theo. Cứ thực hiện thế dần dần, ngôi đình đã được nâng cao lên hơn 2m trên mặt nước sông lúc mùa nước lớn. Đình Thổ Hà ở Việt Yên, Hà Bắc gần đây cũng áp dụng phương pháp thủ công như đình Chèm để kiệu đình lên cao thêm 1,80m.

Kiến trúc đình làng tùy thuộc vào lịch sử xây dựng của từng địa phương, song về đại thể vẫn có những nét chung của nơi thờ tự thành hoàng. Đình thường chia làm 2 phần rõ rệt: đình ngoài và đình trong. Đình ngoài còn gọi là nhà tiền tế hay đại bái. Đình ngoài là một kiến trúc lớn nhất, thường được xây to gồm đến 7 gian hay 9 gian, và được chia làm 3 phần. Chính giữa nhà đại bái (còn gọi là trung đình) được dùng làm nơi tế tự thành hoàng. Ở trung đình có đặt bàn thờ và hương án, hai bên hương án thường bày các đồ tự khí. Trước hương án ở trung đình là nơi các chức sắc trong làng tế thần, thường được giải chiếu hoa khi có tế và cũng là nơi diễn các tích chèo sân đình, hát ca trù, nơi các quan viên ngồi gõ trống chầu thưởng thức…

Hai bên nhà đại bái là tả gian và hữu gian, thường được đóng sàn gỗ, dùng làm nơi hội họp, chia phần làng, ăn cỗ. Dân làng ngồi theo thứ bậc cao thấp: tiên chỉ và các chức dịch như lí trưởng, chánh hội… ngồi chiếu trên, còn bạch đinh ngồi chiếu dưới. Dưới sự khống chế lũng đoạn của bọn cường hào, nơi đình trung ở làng quê Việt Nam trước đây đã diễn ra bao hủ tục, thảm cảnh làm cho người nông dân lao động càng thêm khốn khổ vì việc tế thần mà nhiều nhà văn như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan… đã từng miêu tả.

Hệ thống đồ thờ cúng, nghi trượng và các không gian phụ trợ

Đồ tự khí đặt tại đình ngoài bao gồm:

  • Tam sự: Gồm một bát hương to bằng đồng hoặc một lư hương đỉnh đồng, hai bên là hai hạc đồng trên cắm hai cây nến.
  • Ngũ sự: Gồm có một bát hương, hai cây đèn nến, hai lọ độc bình cắm hoa, một mâm bồng ngũ quả, một cái kỉ (còn gọi là tam sơn) ở giữa cao hơn đặt bộ đài con 3 chiếc để 3 chén đựng rượu, một bên để đĩa trầu cau, một bên để bát nước.

Những đồ thờ thần ở đình, đền gọi chung là nghi trượng, gồm các loại khí giới dùng để đánh nhau và các đồ dùng khi đi đường nhưng được làm giả như thật. Nghi trượng thờ thần quý giá nhất là thanh gươm cẩn (còn gọi là gươm vàng), thường được gác ở giá trước mặt long hài. Khi rước thần, người ta cử người có chức tước cầm gươm đi trước mặt kiệu, thường gọi là gươm đàn mặt. Kế đến là gươm trường và giáo mác (tràng kiếm và can qua), sau đến cờ tiết mao, lưỡi phủ việt, trường côn và đoản trượng. Những khí giới đó ngày thường thì cắm ở giá, khi có tế lễ rước thì cử trai tráng mỗi người cầm một thứ đi trước kiệu làm đồ nghi vệ.

Trong những đồ nghi vệ còn có đồ lỗ bộ, bát bửu, tàn, quạt, cờ, lọng. Có nơi thường gọi lẫn lỗ bộ với bát bửu làm một và số lượng cũng không cứ phải là đúng 8 cái. Những thứ này cũng được cắm ở giá hai bên bàn thờ. Giáp bàn thờ ở phía trong, một bên có một lá cờ gọi là cờ vía, một bên có một cái biển gọi là biển vía. Cờ làm bằng vóc hoặc nhiễu, ở giữa thêu 4 chữ “Thượng đẳng phúc thần”, “Trung đẳng phúc thần” hoặc “Hạ đẳng phúc thần” tùy theo sắc vua phong cho vị thần đó, một bên thêu “Lịch triều phong tặng”. Xung quanh cờ thêu hình rồng bằng chỉ ngũ sắc, chữ thêu bằng chỉ kim tuyến. Biển làm bằng gỗ sơn son, chữ thếp vàng, giữa cũng khắc chữ tương tự như cờ, xung quanh chạm hình tứ linh. Khi rước thần, cờ và biển vía cũng phải do những người sang trọng trong làng mới được phép cầm.

Hai bên hương án và bàn thờ của các đình thường bày bộ bát bửu. Bát bửu là 8 vật quý gồm: cái kiếm, cái bút, cái quạt, quả bầu eo, giỏ hoa, cái khánh hoặc phất trần, cái bàn cờ. Mỗi thứ trong bát bửu được chạm lộng trên đầu một cán dài sơn son thếp vàng và cắm trên một cái giá đặt ở hai bên trước bàn thờ. Trước hương án còn có một dàn lỗ bộ hay còn gọi là bát kích. Bát kích là tám thứ vũ khí đời xưa: thanh long đao, cây mác trường, cái chùy, thanh kiếm, câu liêm, cái đinh ba, cái tay thước, cái nắm tay. Những đồ thờ bát bửu, bát kích trên đây tượng trưng cho tài văn võ song toàn của thần hay thành hoàng làng, làm tôn thêm vẻ uy nghi của thần.

Hai bên hương án còn có hai con hạc cao to đứng trên lưng rùa, tượng trưng cho âm dương hòa hợp và sự trường cửu của thần thánh cùng với dân làng. Lọng, tàn, quạt cũng thuộc vào đồ lỗ bộ. Tàn thường làm bằng vóc hoặc nhiễu, xung quanh thêu “lưỡng long chầu nguyệt” hoặc “cửu long tranh châu”, được khâu tròn lại như một cái lồng, bên trên lại có một tầng vải hoặc móc nhiều làm dình trần, ở giữa có cán cầm. Quạt thường được làm khung bằng gỗ khá to, căng vóc hoặc nhiễu, cũng có thêu và có tay cầm hơi chếch với mặt quạt. Khi rước kiệu thần, người cầm quạt che ở hậu bành trên kiệu, vì kích thước to nên được gọi là quạt vả. Lọng thì như một cái dù lớn ngày nay, cán làm bằng một khúc tre cây dài từ 2 đến 2,5m, khi bật lên thì nóc lọng là một hình tròn để che mưa nắng cho thần. Lọng thường làm bằng giấy phất hoặc vóc, xung quanh có các tua chỉ ngũ sắc hay kim tuyến. Ngoài ra, trong đình đền nếu thờ dương thần còn có thêm ngựa thờ làm bằng gỗ sơn son thếp vàng, dưới chân ngựa có bánh xe tròn nhỏ bằng gỗ để khi rước có thể đem theo. Nếu thờ âm thần thì có võng cáng cũng được làm rất đẹp.

Ngoài các thứ trên ra, đình đền thờ thần còn có cờ ngũ hành. Cờ ngũ hành là 5 lá cờ làm cùng một kiểu nhưng có 5 màu khác nhau, mỗi màu thuộc về một phương và một hành:

  • Màu xanh là phương đông, thuộc về hành MỘC.
  • Màu trắng là phương tây, thuộc về hành KIM.
  • Màu đỏ là phương nam, thuộc về hành HỎA.
  • Màu đen hoặc huyền là phương bắc, thuộc về hành THỦY.
  • Màu vàng là trung ương, thuộc về hành THỔ.

Cờ ngũ hành thường làm 5 lá, có khi làm 10 lá hình chữ nhật lệch, một bên xâu vào cán cờ, còn 3 bên đều làm đường hỏa, giữa cờ để trơn hoặc có khi thêu hình rồng phượng. Thần còn có một cờ lệnh, kích thước to gấp 4 hoặc 6 lần cờ ngũ hành, dùng để kéo lên trên cột cờ cao ở sân đình mỗi khi có lễ hội. Ngoài ra còn có cờ đuôi nheo là một lá cờ nhỏ chỉ bằng một phần ba cờ ngũ hành, có hình dáng đuôi nheo. Khi có rước thần, một người chỉ huy sẽ cầm cờ đó làm hiệu lệnh cho những người mang các nghi vệ.

Trong các đình thường có kiệu để làm lễ rước thần. Các kiệu làm bằng gỗ sơn son thếp vàng, số lượng kiệu nhiều hay ít tùy thuộc vào số vị thần được thờ trong đình, thường được cất giữ ở gác nhà tả mạc và hữu mạc. Về nhạc khí, đình thường có 1 trống cái (to) dùng để đánh lên những khi mời làng ra họp hoặc tế lễ hội hè, cùng với chiêng, khánh hoặc mõ đại làm bằng cả một cây gỗ to được khoét rỗng ở giữa.

Nghi trượng của thần thờ ở các đình, đền làng không giống nhau mà tùy theo vị thần, thành hoàng được thờ. Nếu thành hoàng là các vị vua đời trước như Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành… thì sửa sang đồ nghi trượng y như của vua dùng. Còn nếu thờ các vị trung thần nghĩa sĩ thì tùy theo quan chức lúc sinh thời mà sắm sửa. Song cũng có vị thần nguyên chỉ là quan nhưng do được vua phong Vương nên dân làng cũng sắm sửa đồ nghi trượng như của vua cũng vẫn được.

Kiến trúc nhỏ phía sau nhà đại bái gọi là đình trong, hậu cung hay nội điện. Đây là chốn thâm nghiêm, nơi thờ tự chính của ngôi đình mà người bình thường không được phép bước vào, nên còn gọi là cung cấm. Trong nội điện có bày bài vị của thành hoàng làng, đặt trang trọng trong một long ngai hay long khám. Trước long ngai đặt một hòm đựng sắc phong của thần. Trên hương án cũng đặt một bình hương và các đồ thờ cúng khác.

Trước đại bái là sân đình, hai bên tả hữu của sân đình thường xây hai dãy nhà nhỏ gọi là tả mạc và hữu mạc, dùng làm nơi sửa sang, dọn dẹp lễ vật trước khi dâng lễ vào nhà đại bái. Trước sân đình là cổng, có nơi xây kiểu tam quan. Nhiều tam quan cũng được xây đắp rất đẹp, có các cột trụ biểu, hai bên vách tường thường đắp hình các con rồng, con cọp hoặc vẽ hai võ tướng cầm long đao dáng vẻ dữ tợn như để bảo vệ cho chốn linh thiêng. Cũng có nơi vẽ hình ngựa, hình voi hoặc làm voi đá đứng hai bên. Trên đầu hai cột trụ thường đắp hai con sấu sành gắn các mảnh gốm.

Sự khác biệt giữa Đình và Đền trong văn hóa thờ tự

Đền cũng là một kiểu kiến trúc để thờ thần nhưng không phải là nơi thờ thành hoàng. Thành hoàng chỉ được thờ ở đình. Mỗi làng chỉ có một ngôi đình duy nhất nhưng có thể sở hữu nhiều đền. Đền chỉ dành riêng cho việc phụng thờ tế lễ, còn đình là nơi thờ vọng, đồng thời kiêm chức năng là nơi hội họp của làng, vì vậy đình có cấu trúc to lớn còn đền thường nhỏ bé hơn đình. Khi tế thần, dân làng rước thần từ đền về đình. Đền mới chính là nơi “thường trú” của thần, chỉ vào ngày lễ ở đình thì thần mới giáng lâm.

Đình thường được xây dựng ở vị trí trung tâm, tiện cho dân làng hội họp, còn đền thường được xây ở gần nơi gò cao, nơi có liên quan đến cuộc sống lúc đương thời, nơi đóng quân hoặc nơi hóa của thần (nhất là đối với nhân thần). Đền được cấu trúc cũng giống như đình, cũng có nội điện (nhà hậu cung) và đại bái (thượng điện) nhưng với quy mô nhỏ hơn. Hai bên tả hữu của đền thường hẹp, có đặt nhiều bàn thờ để người đến lễ bày biện lễ vật dâng hương.

Hầu hết các đình đều không có tượng thần hay thành hoàng mà chỉ có ở đền mới có tượng thờ. Cũng có đền thờ bao nhiêu vị thần thì có bấy nhiêu pho tượng. Ngoài tượng thần chính, ở các đền cũng còn có tượng các bộ hạ. Tượng thần chính được bày ở vị trí cao nhất nơi chính điện, các tượng phụ được bày ở hàng dưới. Cũng như tượng Phật ở chùa, tượng thần cũng được làm bằng nhiều chất liệu khác nhau như đồng, đá, gỗ hoặc đất. Pho tượng Trấn Vũ ở đền Quán Thánh được đúc bằng đồng hun ở thế kỷ 17 có chiều cao tới 3,5m, nặng tới gần 4 tấn. Tượng tổ sư nghề đúc đồng Nguyễn Minh Không ở đình Ngũ Xã được tạo tác bằng gỗ, cao 1,70m. Các pho tượng ở đình, đền được tạc theo công thức cổ điển nên không khác nhau mấy về hình dáng, mang tính tượng trưng ước lệ và ít giá trị mỹ thuật hơn so với tượng Phật. Tuy vậy, thỉnh thoảng ở vài ngôi đình, đền cũng có những pho tượng đạt tới giá trị mỹ thuật và kỹ thuật thủ công rất cao.

Đình, đền cũng thường có dựng bia đá. Chẳng hạn như đền Bạch Mã có 15 bia, đền Quán Thánh có 6 bia, đền Đồng Nhân có 9 bia; các đình Kim Liên, Yên Phụ, Quan Nhân, Công Đình… cũng đều có bia. Nội dung của bia đình, đền chủ yếu ghi lại công đức của vị thần, việc xây dựng và trùng tu qua các thời kỳ, danh sách những người đã góp công đức cho việc tu tạo. Người góp tiền và ruộng đất nhiều thường được tôn làm hậu thần, trong văn bia cũng ghi rõ ngày tế lễ thần cùng số ruộng tự điền.

Các bia dựng ở đền thờ tổ nghề thường ghi rõ các dòng họ của làng nghề từ nơi khác đến kinh đô lập nghiệp và thông tin về ông tổ nghề. Có bia đình ghi lại sắc vua ban cho cả làng như bia đình làng Phú Thị ghi việc chúa Trịnh ban cho làng biển chữ “TRUNG NGHĨA”. Có bia đình lại ghi rõ ranh giới ruộng đất giữa hai làng như bia đình xã Thanh Trí và Thắng Trí (huyện Sóc Sơn) hoặc giới hạn của khu rừng (Thanh Trí, Sóc Sơn).

Cá biệt, có ngôi đình còn lưu giữ được quyển sách đồng quý hiếm như ở đình Mai Phúc, xã Gia Thụy, huyện Gia Lâm. Sách gồm 12 lá đồng thau khổ 18 x 34cm, được đóng lại bằng dây đồng với trọng lượng nặng khoảng 1kg. Mỗi trang sách có từ 7 đến 8 dòng chữ, mỗi dòng chứa từ 5 đến 25 chữ, tổng cộng toàn văn khoảng hơn 2000 chữ. Nội dung sách ghi lại sự tích của hai vị thần thời nhà Đinh là Xuân Vinh và Luân Nương. Đây là hai anh em ruột đã có công lớn lao trong việc dẹp loạn 12 sứ quân, hai vị thần vốn thông minh, dũng cảm, tài ba; cuốn sách ghi chép đầy đủ cả ngày sinh cùng ngày hóa của hai vị.