Đình và Miếu Công Đình Tại Gia Lâm, Hà Nội

đình và miếu Công Đình tại địa phận xã Đình Xuyên, thuộc huyện Gia Lâm, thủ đô Hà Nội. Để di chuyển đến đây từ khu vực trung tâm Bờ Hồ, du khách đi theo hướng đường Tràng Tiền, chạy qua Nhà hát Lớn rồi rẽ trái ra tuyến đường Trần Nhật Duật. Tiếp tục hành trình qua cầu Chương Dương và cầu Đuống đến khoảng cây số thứ 11 hoặc 12, qua khu vực thị trấn Yên Viên thì rẽ trái, di chuyển thêm chừng 2 km nữa là tới làng Công Đình cùng khuôn viên di tích lịch sử này.

Thần Tích Về Thành Hoàng Đức Tả Phù Tại Đình Công Đình

Ngôi đình Công Đình linh thiêng là nơi thờ tự vị Thành hoàng làng là Đức Tả Phù. Theo truyền thuyết dân gian lưu truyền, ông vốn sinh ra tại Phù Ninh trong một gia đình nghèo khó nhưng có tài năng đặc biệt là chặn ngựa cho nhà vua. Vào thời điểm bấy giờ, giặc Bầu nổi loạn ở vùng miền ngược, ông tình nguyện xin tham gia dũng cảm dẹp giặc và được tin tưởng chọn làm thám tử. Với sự gan dạ cùng trí thông minh mưu lược, ông nắm bắt tường tận nhiều tin tức mật của kẻ địch. Ông hóa trang trong bộ dạng rách rưới để đột nhập thẳng vào trại giặc, mưu trí chuốc rượu cho quân địch say mềm rồi phát tín hiệu để lực lượng quân lính của triều nhà vua bất ngờ tiến đánh. Đoàn quân giặc tan tác chịu thua đậm. Nhờ lập được công lớn, ông được triều đình sắc phong là “Tân nhật nhất phong”. Đồng thời, ông xin vua ban cho khu nhà của giặc Bầu, cho tháo dỡ đem về quê nhà dựng lên ngôi đình nhằm thờ cúng vị thần đã phù trợ giúp đỡ. Cho đến khi qua đời, ông được người dân trong làng lập bệ thờ phụng tại đình và tôn vinh làm Thành hoàng làng.

Những nét chữ khắc ghi niên đại vào năm 1668 cùng dấu ấn phong cách kiến trúc đặc trưng thời Lê chính là bằng chứng xác thực về thời điểm khởi dựng ban đầu của ngôi đình Công Đình.

Đặc Điểm Kiến Trúc Độc Đáo Của Đình Công Đình

Ngôi đình Công Đình cho đến nay vẫn bảo lưu trọn vẹn rất nhiều dấu ấn nghệ thuật nguyên thủy từ thủa ban đầu.

Khu vực cổng tam quan được xây dựng theo kiểu cột đồng trụ uy nghi, kết hợp hình tượng nghê chầu sinh động. Tòa phương đình sở hữu tổng cộng 16 cột gỗ lim kích thước lớn, thiết kế 2 tầng mái với cấu trúc 8 lá mái, các góc đao uốn lượn tạo hình rồng cuốn đuôi cá chép tinh xảo. Các mảng chi tiết trang trí tập trung chủ yếu tại vị trí cốn nách, đầu dui và đầu bẩy với hoa văn chạm khắc hình rồng cùng phượng vũ hai cánh xòe rộng trong tư thế dang tay uy quyền.

Khu vực đại đình có quy mô 5 gian 2 chái, trong đó 3 gian chính giữa thiết kế kiểu 2 cánh lớn, hai bên bố trí cửa bức bàn chắc chắn. Hệ thống kết cấu gồm 4 bộ vì kèo không dùng giá chiêng mà ứng dụng kiểu “chữ thập chống nóc”. Điểm nhấn trang trí quan trọng bậc nhất nằm ở hệ thống đầu dư, có nét tương đồng lớn với hệ thống đầu dư tại đình Đình Bảng ở vùng Hà Bắc, mang đậm dấu ấn phong cách nghệ thuật hậu Lê đặc sắc. Đó là những chiếc đầu rồng với thiết kế mũi hếch, miệng há rộng ngậm ngọc châu, kết hợp phần râu tóc tạo hình số 8 mềm mại. Đặc biệt, bộ phận cánh én đỡ xà hạ là chi tiết kiến trúc hiếm có và đặc biệt nhất tại đình Công Đình, với cấu trúc gá đỡ kiểu cánh én làm trên thân gỗ bẹt có phần đầu quay vào gian giữa, phần đuôi quay hướng sang gian bên, thân xuyên qua cột cái.

Bên cạnh đó, hệ thống cửa võng được tạo tác theo lối chân quỳ dạ cá. Phía trên chạm khắc hình rồng chầu mặt trời, còn phía bên dưới là các ô kích thước lớn nhỏ khác nhau trang trí hình hổ phù, phượng trúc đan xen… Phần mặt hổ phù ở đây có thiết kế đơn giản và mang tính phóng khoáng hơn so với các mẫu hổ phù tại đình Đình Bảng.

Giá Trị Lịch Sử Và Lưu Giữ Di Vật

Ngoài các giá trị kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu kể trên, ngôi đình Công Đình hiện nay vẫn còn gìn giữ được những đạo sắc phong quý giá có niên hiệu sớm nhất vào năm Dương Đức thứ 3 (1673).

Miếu Công Đình: Không Gian Thờ Tự Nguyễn Nộn

Miếu Công Đình là chốn linh thiêng phụng thờ nhân vật lịch sử Nguyễn Nộn. Căn cứ theo ghi chép trong bộ sách Đại Việt sử kí toàn thư, Nguyễn Nộn vốn xuất thân từ làng Phù Đổng. Do sự việc nhặt được vàng mà không đem nộp triều đình nên nhà vua đã phái binh lính đến bắt giữ. Ngay sau đó, Nguyễn Nộn đã lẩn trốn và nổi dậy vào giai đoạn cuối thời Lý, tự xưng tước hiệu là “Hoài Đạo Vương”. Tới thời điểm nhà Lý suy yếu dần, ông đã chiếm cứ toàn bộ khu vực vùng đất Bắc Giang. Bước sang triều đại nhà Trần vào năm 1226, lực lượng nghĩa quân của ông phát triển vô cùng mạnh mẽ, hùng cứ một phương trời. Chính vì thế, vua nhà Trần đã quyết định phong tước vương đồng thời gả công chúa cho ông. Cho đến năm 1229, ông ngâm bệnh và qua đời tại Phù Ninh.

Kiến Trúc Độc Sắc Và Nghệ Trương Chạm Trổ Tại Miếu Công Đình

Kiến trúc miếu Công Đình nổi bật với thiết kế chỉ gồm 2 cột trụ xây, phía đỉnh đính hình 4 con phượng chụm đầu vào nhau mang ý nghĩa biểu tượng cho bốn phương trời. Tòa đại đền được xây dựng với quy mô 5 gian 2 chái, kết cấu bộ vì kèo kiểu “giá chiêng chồng giường”, kết hợp cùng phần kẻ hiên và vì ván mê vững chãi. Tại khu vực hai bức cốn hiên được nghệ nhân chạm nổi tinh tế các họa tiết hình cây đào, cây lựu; phần bẩy chạm khắc hoa tiết trúc mai sinh động. Riêng phần cốn gian giữa nổi bật với nghệ thuật chạm kênh bong hình rồng chầu có đặc điểm mắt lồi và hàm răng nhe sắc nét. Các bộ phận vì kèo ván mê đều được chạm trổ hình mặt hổ phù cùng những họa tiết hoa lá hóa rồng uyển chuyển.

Bên cạnh đó, hệ thống cửa võng được chạm thủng tỉ mỉ với nhiều đề tài phong phú như hình mặt hổ phù, hình rồng, các loại hoa dây và hoa xoắn, toàn bộ đều được phủ lớp sơn son thếp vàng lộng lẫy. Ngoài ra, tại khu vực đình và miếu hiện vẫn bảo lưu được hệ thống di vật vô cùng phong phú bao gồm ngai thờ, ngựa thờ cùng bộ bát bửu trang nghiêm… Đặc biệt, tại miếu còn lưu giữ được đạo sắc phong mang niên hiệu cổ xưa nhất là năm Dương Đức thứ 3 (1673).

Giá Trị Lịch Sử Và Quyết Định Xếp Hạng Di Tích

Cụm di tích đình và miếu Công Đình được giới chuyên môn đánh giá là hai công trình hiếm hoi còn sót lại, gìn giữ trọn vẹn dấu ấn phong cách kiến trúc thời hậu Lê vô cùng đặc sắc cùng hệ thống các mảng chạm khắc đa dạng, phong phú.

Chính nhờ những giá trị nghệ thuật và lịch sử to lớn ấy, vào ngày 22 tháng 4 năm 1992, cụm di tích đình và miếu Công Đình đã chính thức được Bộ Văn hóa – Thông tin ra quyết định xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.