Đền Hai Bà Trưng – quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Đền Hai Bà Trưng, còn được gọi là đền Trưng Nữ Vương hay đền Đồng Nhân, tọa lạc tại xã Đồng Nhân, huyện Thanh Trì xưa, nay thuộc địa phận phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

Bối cảnh lịch sử và cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng

Theo tài liệu của Đại Việt sử ký toàn thư, đất nước ta rơi vào ách thống trị của nhà Tây Hán từ năm 110 trước Công nguyên. Đến năm 39 Công nguyên, thái thú Giao Chỉ là Tô Định nổi tiếng tham lam, bạo tàn đã sát hại Thi Sách – chồng của bà Trưng Trác và là con trai một vị lạc tướng. Ngay sau đó, bà cùng em gái là Trưng Nhị đã phất cờ khởi nghĩa nhằm đánh đuổi Tô Định.

Hưởng ứng lời kêu gọi, nhân dân các quận Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố đồng loạt đứng lên, thu phục thành công 65 thành trì tại khu vực Lĩnh Nam, và Hai Bà đã tự xưng làm vua. Tới năm 41 sau Công nguyên, triều đình nhà Hán phái danh tướng Mã Viện đem đại quân sang đàn áp. Do lực lượng chênh lệch, Hai Bà chống đỡ không nổi nên phải rút lui về Cẩm Khê, sau đó thua trận.

Trong tâm trí người dân Việt Nam, Hai Bà Trưng luôn là những vị anh hùng dân tộc có công trạng to lớn với đất nước, vì vậy được nhân dân khắp nơi lập đền thờ phụng để ca ngợi công đức.

Truyền thuyết về tượng đá và quá trình di dời ngôi đền

Ngôi đền tại Hà Nội ban đầu được khởi dựng vào năm 1142 dưới triều vua Lý Anh Tông. Hai vị nữ anh hùng vốn sinh ra tại huyện Mê Linh, thuộc vùng đất Phong Châu. Khi giặc phương Bắc xâm lược, Hai Bà dấy binh khởi nghĩa giành lại 65 thành trì ở Lĩnh Nam. Sau khi thất thủ ở Cẩm Khê, hai bà lên núi Thường Sơn rồi hóa. Một thuyết khác lại kể rằng Hai Bà đã cùng nhảy xuống sông Hát Giang tự vẫn, linh khí kết tinh thành hai tảng đá trắng trôi dạt theo dòng sông Hồng về đến bãi Đồng Nhân và thường phát sáng rực rỡ vào ban đêm.

Phát hiện sự kỳ lạ ấy, dân làng đã dùng vải đỏ để rước tượng lên bờ rồi lập miếu thờ ngay vùng bãi ven sông. Tương truyền, pho tượng có hình ảnh đầu đội mũ trụ, thân mặc áo giáp, hai tay giơ cao chỉ lên trời. Nhà vua đã ban tặng hai đôi ngà trang trí cùng hai pho tượng voi để thờ phụng. Đến thời vua Lê Hi Tông, niên hiệu Chính Hòa (1676 – 1705), đền nhận được sắc phong “Lĩnh Nam liệt khái, thạch hoá chân dung” (có nghĩa là đấng nghĩa liệt khẳng khái đất Lĩnh Nam dung mạo kết tinh thành đá).

Do hiện tượng xói lở ven sông đe dọa trực tiếp, ngôi đền đứng trước nguy cơ bị phá hủy nên dân chúng phải di dời về xã Đại Từ. Tới năm Gia Long thứ 17 (1818), đền được dời vào thôn Hương Viên, xây dựng trên khu nền Võ Sở cũ (nơi nhà Lê từng dùng làm địa điểm luyện tập và thi cử võ nghệ). Cùng lúc đó, bà con làng Đồng Nhân ở ngoài bãi cũng chuyển vào đây để tiếp tục hương khói cho Hai Bà, và tên gọi đền Đồng Nhân vẫn được giữ nguyên cho tới ngày nay.

Kiến trúc tổng thể của khu di tích

Khuôn viên đền thờ hiện nay phân chia thành hai khu vực chính gồm đền thờ Hai Bà Trưng và ngôi chùa thờ Phật. Đền thờ chính được xây dựng theo lối kiến trúc độc đáo kiểu “nội công ngoại quốc”.

Đền thờ Hai Bà Trưng

Tòa bái đường cấu trúc gồm 7 gian, sở hữu phần mái dài và rộng, bên trong bố trí phong phú các đồ tế khí. Gian ngoài đặt tượng hai con voi màu đen, một chiếc khánh bằng đồng thau cùng tấm bia đá chạm khắc năm 1840 dưới triều vua Minh Mệnh, do tiến sĩ Vũ Tông Phan soạn thảo. Gian giữa nổi bật với các tác phẩm điêu khắc gỗ tinh xảo. Gian trong cùng là nơi tôn nghiêm để thờ Hai Bà Trưng. Trên bệ đá cao khoảng một mét đặt tượng Hai Bà làm từ đất luyện, tạo hình trong tư thế ngồi, hai tay hướng lên trời, khoác trang phục áo lụa màu vàng và đỏ. Xung quanh bài trí thêm tượng của 13 vị nữ tướng.

Miếu Quan Hoàng và Chùa thờ Phật

Nằm kế bên là Miếu Quan Hoàng dùng để thờ Tam tòa Thánh Mẫu và ngôi chùa thờ Phật, tất cả đều được bài trí đầy đủ đồ thờ tự trang nghiêm. Hiện tại, khu đền lưu giữ 1 tấm bia đá, trong khi khu chùa sở hữu tổng cộng 9 tấm bia ghi dấu lịch sử.

Lễ hội đền Hai Bà Trưng truyền thống

Lễ hội tại đây diễn ra với nhiều sự kiện quan trọng trong năm:

  • Mùng 6 tháng Giêng: Kỷ niệm ngày vua Bà đăng quang.
  • Mùng 6 tháng Hai: Ngày hội chính với quy mô lớn nhất.
  • Mùng 1 tháng Tám: Ngày thánh đản (sinh nhật).
  • Mùng 8 tháng Ba: Ngày thánh hóa.

Công tác chuẩn bị bắt đầu từ ngày mùng 4 tháng Hai khi dân làng tiến hành lễ tế nhập tịch. Sang ngày mùng 5 diễn ra lễ rước nước hoành tráng, với hàng trăm người tham gia khiêng kiệu, chèo thuyền ra giữa lòng sông để lấy nước, nấu cùng trầm hương nhằm thực hiện nghi thức tắm tượng và thay y phục mới. Tục lệ dâng cúng rượu cùng trà vào cung cấm theo truyền thống cổ truyền do các vị lão bà đảm nhiệm. Không khí lễ hội vô cùng tưng bừng với các hoạt động rước kiệu, múa rồng, đấu cờ, đấu võ… Đây được xem là một trong những kỳ hội lớn và có tiếng vang nhất tại khu vực kinh đô Thăng Long.

Trong không gian văn hóa ấy, bốn ngôi làng gắn bó mật thiết với cuộc đời Hai Bà gồm Hạ Lôi (quê hương), Hát Môn (nơi tụ nghĩa, tế cờ và khởi nghĩa), Phụng Công (nơi đóng quân) và Đồng Nhân (nơi rước tượng hóa đá) trước đây từng duy trì tục kết nghĩa sâu sắc. Đây là một nét đẹp văn hóa biểu thị tinh thần đoàn kết giữa các vùng đất cùng hướng về hai vị nữ anh hùng của dân tộc.

Giá trị biểu tượng và sự công nhận di tích

Đoạn văn bia do tiến sĩ Vũ Tông Phan soạn dựng ngay trước cửa đền đã gói gọn niềm thành kính sâu sắc của cả dân tộc dành cho Hai Bà:

“Ôi trí tuệ biết nhường nào! Tài giỏi biết nhường nào! Nghĩa liệt khí khái biết nhường nào! Chị em một nhà, anh hùng nghìn thuở. Có lẽ trong nữ giới chưa bao giờ có người như thế mà cũng là việc hiếm có trong dòng họ nhà tướng. Việc làm của trượng phu không thể lấy thành hay bại để luận bàn. Việc làm của Hai Bà cũng không nên lấy thành bại mà luận bàn. Nghìn đời sau đọc sử xưa khiến ta càng tăng khí phách.”

Với những giá trị lịch sử và văn hóa đặc biệt, khu vực đình và chùa đã được Bộ Văn hóa – Thông tin chính thức xếp hạng di tích lịch sử vào ngày 28/04/1962.