Nghè Keo (Đền Giao Tất): Ngôi Đền Cổ Kính Lưu Giữ Dấu Ấn Lịch Sử Và Tổ Nghề Ca Trù Tại Gia Lâm Hà Nội
Nghè Keo còn được biết đến với tên gọi là đền Giao Tất, nằm tọa lạc tại địa phận xã Kim Sơn, thuộc ranh giới huyện Gia Lâm, thủ đô Hà Nội.
Làng Keo xưa kia mang tên Cổ Giao, thuộc huyện Long Biên, quận Giao Chỉ, từng là một vị trí chiến lược vô cùng quan trọng ngay tại trung tâm đồng bằng Bắc Bộ. Vùng đất này trong quá khứ nổi danh với hai nghề thủ công truyền thống là nghề nấu keo da trâu và nghề sơn son thếp vàng.
Truyền Thuyết Về Các Vị Thần Được Thờ Tại Nghè
Chiếu theo thần phả và truyền thuyết lưu truyền, nghè là nơi phụng thờ danh tướng Đào Phúc cùng người vợ là Tiên Anh, đôi vợ chồng ông bà Đinh Dự và Mân Đường Hoa, cùng với vị quận công họ Đỗ.
Thân phụ của Đào Phúc là Đào Bột, vốn gốc người Thanh Hoa, do gia cảnh nghèo khó phải rời quê đi kiếm sống. Khi đến làng Keo, ông gặp bà Nguyễn Thị Lương, hai người nên duyên vợ chồng rồi quyết định ở lại quê vợ để vừa lao động sản xuất vừa dạy chữ. Về sau, ông trở thành thầy giáo có tiếng tại vùng Dâu và vùng Keo. Cặp vợ chồng sinh hạ được một người con trai khôi ngô tuấn tú đặt tên là Đào Phúc. Chàng trai trẻ này nổi tiếng thông minh học một biết mười, văn võ song toàn và sở hữu chí lớn. Khiêm nhường qua các kỳ thi, ông đỗ tiến sĩ, được nhà vua ngợi khen là bậc tuấn kiệt và gả công chúa Tiên Anh cho. Tới cuối thời Lý, khi giặc ngoại xâm phương Bắc nhòm ngó, triều đình cử Đào Phúc giữ chức thượng tướng quân dẫn quân dạo dẹp giặc giã ngoài biển khơi xa xôi. Sát cánh bên chồng, công chúa Tiên Anh nhận trọng trách lo toàn bộ nguồn lương thảo. Nhờ sự đồng lòng, hai người góp công lớn đánh tan hoàn toàn giặc dữ.
Khi khúc khải hoàn ca vang, hai vợ chồng trở về quê cũ bái tổ đường Giao Tất. Đúng ngày mùng 7 tháng 4, trời đất bỗng chuyển mình với những trận sấm sét dữ dội, cả hai ông bà cùng hóa thành phách tại vùng Cổ Thể gần làng Keo, sau đó mối đùn lên thành một ngôi mộ lớn mà người dân bản địa từ đó gọi là núi Bù. Thương tiếc khôn nguôi, nhân dân tâu lên triều đình xin tạc tượng lập đền thờ phụng.
Bên cạnh đó, nghè còn thờ cặp vợ chồng ông bà Đinh Dự và Mân Đường Hoa, những người được tôn vinh là tổ nghề ca trù.
Theo bản thần phả do Đông các đại học sĩ Đào Cử biên soạn vào năm Hồng Đức thứ 7 (1476) ghi chép lại: Vào đời vua Lê Thái Tổ, tại đạo Trường Yên, Hoa Lư có gia đình họ Đinh tên Lễ cùng nhân dân hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh. Đêm nọ, ông Đinh Lễ nằm mộng thấy một vị xưng là Đông Phương Sóc hiện ra báo mộng rằng nhà ngươi nhân đức lớn ắt sinh quý tử rồi bay đi. Quả nhiên vợ ông sau đó mang thai và sinh ra Đinh Dự vào ngày mùng 6 tháng 4 năm Quý Tỵ. Cậu bé lớn lên khôi ngô tuấn tú khác thường, tư chất thông minh, từ đàn ca, thơ phú, cờ tướng cho tới hội họa hay hát xướng đều tinh thông vượt trội. Nhân dịp tết đi chơi ngang qua chùa Thiên Thai thuộc phủ Thuận An, chàng gặp một giai nhân nhan sắc tuyệt trần liền cất lời hỏi thăm. Nàng đáp rằng mình là Đường Hoa Tiên Hải, người động Nga Sơn thuộc đạo Thanh Hóa, mang sứ mệnh truyền bá lời ca tiếng hát làm vui cho đời. Cả hai nên duyên vợ chồng, từng góp công giúp vua giải khuây và quyết tâm đánh đuổi giặc Minh. Cảm kích trước nghĩa cử cao đẹp, nhà vua thiết yến khoản đãi và ban thưởng tước vị. Về sau, Đường Hoa thưa với chồng rằng nhờ có vượng khí đất trời nay đã tròn duyên lành cùng chồng đi khắp non sông để phổ biến nghệ thuật ca trù cho bá tánh, nay trần thế đã mãn xin tạ từ rồi bay đi mất. Về phần Đinh Dự, sau khi bái tạ nhà vua, chàng đập đầu vào cột trụ đá hóa thành rắn xanh vào ngày 13 tháng 12. Nhà vua bèn ra lệnh cho các giáo phường đón nhận mĩ tự, thiết lập đền thờ phụng, đồng thời phong Đinh Dự làm Thanh Xà đại vương, Mân Đường Hoa làm công chúa, chuẩn y cho giáo phường Giao Tất cùng Lỗ Khê ở đạo Kinh Bắc và mười hai giáo phường khắp cả nước phụng thờ tôn làm tổ nghề ca trù.
Nhân vật cuối cùng được phụng thờ tại đây là thiếu bảo quận công họ Đỗ, một vị hậu thần có công lớn với làng. Tấm bia hậu ghi chép về ông như sau: Đỗ tướng công tên tự Như Triều, thụy hiệu là Mãn Đạt, vốn là bậc trọng thần của nước Nam, từng là danh tướng phương Bắc phò tá nhà lý và được triều đình phong tặng danh hiệu tối thượng tướng quân. Thấy cảnh đình chùa hai làng Giao Tất và Giao Tự rơi vào cảnh đổ nát hoang tàn, lòng ông không khỏi xót xa. Vào năm Ất Tỵ, theo đúng tâm nguyện của nhân dân, ngài tự nguyện bỏ tiền tài xây dựng ba gian hai chái chùa. Tới năm Đinh Mùi, ngài tiếp tục cho xây dựng thêm tòa thượng điện, tiền đường, hậu đường cùng hai dãy hành lang và tam quan với quy mô vô cùng bề thế, lộng lẫy. Tới năm Bính Thìn, ngài lại tài trợ cho hai làng hai trăm quan tiền, hai nén bạc cùng sáu mẫu ruộng phúc đức để chia cho mười giáp canh tác cày cấy.
Kiến Trúc Nghệ Thuật Độc Đáo Của Nghè Keo
Công trình kiến trúc nghè Keo được dựng ngay trong khuôn viên đình làng, xung quanh rợp bóng cây cổ thụ và quay về hướng Tây Bắc. Tổng thể quy hoạch bao gồm các hạng mục: cổng tam quan, sân miếu thờ, tòa đại bái, nhà nối phương đình có mái che kiên cố đỡ bằng hai trụ lớn. Phần đỉnh trụ đắp nổi hình bốn con phượng chụm đuôi vào nhau với đầu quay về bốn hướng; phía dưới trang trí hình lồng đèn chạm trổ tứ linh, thân trụ vuông có khắc nổi các câu đối chữ Hán ở bốn mặt. Từ cột trụ có xây nối hai bức tường nhỏ đắp nổi hình tượng hai vị ông hộ pháp nghiêm nghị. Phía ngoài tam quan bố trí một ngôi miếu nhỏ thờ Tứ phủ công đồng.
Tòa đại bái gồm năm gian xây dựng trên nền cao theo kiến trúc tường hồi bít đốc. Phía ngoài dựng hai trụ biểu với phần đỉnh đắp hình hai con nghê chầu đầu vào nhau, mái lợp ngói mũi hài cổ kính, bờ nóc trang trí đôi rồng chầu mặt trời uy nghiêm.
Khu vực phương đình được thiết kế theo lối tám mái với bốn góc đao cong vút, lợp ngói mũi hài cổ, khoảng trống giữa các tầng mái bố trí hàng chấn song con tiện bằng gỗ. Kết cấu bộ vì làm theo kiểu chồng giường giá chiêng trốn cột rất vững chắc.
Hậu cung gồm ba gian làm theo kiểu tường hồi bít đốc tay ngai. Hai bên hồi xây hai trụ biểu có đỉnh đắp hình trái giành, kết cấu bộ vì theo kiểu chồng giường giá chiêng. Bên trong hậu cung đặt ba bệ thờ trang nghiêm: bệ chính thờ danh tướng Đào Phúc cùng công chúa Tiên Anh, bệ bên trái thờ vợ chồng ông bà Định Dự và Mân Đường Hoa, trong khi bệ bên phải dành để thờ Mẫu và các vị hậu thần.
Vào ngày 21 tháng 6 năm 1993, cụm di tích nghè Keo đã vinh dự được Bộ Văn hóa Thông tin chính thức xếp hạng là di tích lịch sử và nghệ thuật cấp quốc gia.

Bài viết liên quan
Khám phá Đền Ngọc Sơn Hà Nội: Kiến trúc, lịch sử
Tìm hiểu những nét khái quát về Đền Thờ cổ truyền Việt Nam
Khám phá các ngôi đình làng nổi tiếng
Quy trình nghi lễ thờ cúng tại Đình chuẩn nghi lễ cổ truyền
Bài Văn Khấn Ở Đình, Đền, Miếu, Phủ chuẩn nghi lễ truyền
Bài Văn Tế Thành Hoàng Ở Đình Chuẩn Nghi Lễ Cổ Truyền
Văn Khấn Cho Gia Chủ Bán Khoán Con Vào Chùa Chuẩn Nghi Lễ
Văn Khoán Khấn Mại Đồng Tử Chuẩn Nghi Lễ Cổ Truyền
Văn khấn Cầu Siêu cho Gia Tiên và phong tục đi lễ chùa
Bài văn khấn trước Chính Điện Tam Bảo