Lễ Hội Mbăng Katê Của Người Chăm: Bản Sắc Văn Hóa

            — Lễ Hội Mbăng Katê —

Dân tộc: Cộng đồng người Chăm theo đạo Bà La Môn.
Đối tượng suy tôn: Các anh hùng liệt sĩ, các thần linh và ông bà, tổ tiên.
Thời gian: Đầu tháng bảy, lịch Chăm (tương ứng với tháng tám – chín âm lịch).
Địa điểm: Tại lăng, tháp, sau đó chuyển về từng gia đình.
Đặc điểm: Có sự phối hợp với người Raglai, cùng ngữ hệ Malayo Polynésien.

Đồng bào Chăm sở hữu rất nhiều hội hè đặc sắc diễn ra xuyên suốt chu kỳ mười hai tháng. Có thể kể đến lễ Pơh Mbãng Yang – ngày lễ cúng đầu năm tại hệ thống lăng tháp nhằm cầu xin các vị thần linh ban phép cho người dân được khai thông kênh rạch, đắp đập ngăn nước và bước vào vụ mùa mới. Bên cạnh đó là lễ Yôn Yang và Plao Pasah dùng để cầu đảo, hay lễ Rija Nagar nhằm hướng nguyện cho quốc thái dân an, thời tiết mưa thuận gió hòa. Tuy nhiên, giữ vị trí trọng đại nhất, sở hữu quy mô tổ chức to lớn và kéo dài nhiều ngày hơn cả chính là lễ hội Mbăng Katê.

Sự kiện này được xem như ngày Tết cổ truyền của người Chăm. Đây đồng thời cũng là dịp thiêng liêng để toàn thể cộng đồng tưởng niệm các vị anh hùng liệt sĩ, những bậc thần linh, nữ thần Pô Nagar (còn gọi là Pô Inô Nagar) cùng các vị vua có công lao to lớn trong việc mở mang phát triển nền nông nghiệp như Pô Klông Girai, Pô Rômê đã được thần hóa, kết hợp với việc thờ cúng tổ tiên, ông bà. Những cặp vợ chồng hiếm muộn con cái thường nhân cơ hội này mang theo lễ vật kính cẩn tìm đến các khu lăng tháp để cầu xin nữ thần Pô Nagar ban phát phúc lành.

Thời Gian Và Không Gian Diễn Ra Ngày Tết Mbăng Katê

Lễ Mbăng Katê được ấn định tổ chức vào thời điểm đầu tháng 7 dựa theo hệ lịch riêng của người Chăm. Tiết lễ bắt đầu diễn ra tại các đền đài, lăng tháp cổ kính, sau đó người dân sẽ dịch chuyển về không gian từng ngôi nhà để tổ chức các mâm cúng tổ tiên trong vòng ba ngày liên tiếp. Đối với người Chăm, mối quan hệ huyết thống họ hàng cũng như đời sống tình cảm gia đình luôn được đặt lên vị trí tối thượng. Vào những ngày này, người ta thường dành thời gian đi thăm viếng lẫn nhau giữa các thành viên trong thân tộc và bạn bè hữu hảo. Những ai vì cuộc sống mưu sinh phải lập nghiệp ở nơi xa xôi cũng đều cố gắng thu xếp công việc để trở về sum họp dưới mái nhà chung. Các hoạt động ăn uống, vui chơi giải trí vào thời kỳ trước đây thường có xu hướng kéo dài liên miên cho đến khi hết tháng 7 lịch Chăm.

Thông thường, lễ Mbăng Katê được tổ chức một cách vô cùng trang trọng tại các quần thể lăng tháp danh tiếng bao gồm Pô Nagar, Pô Klông Girai, Pô Rômê thuộc khu vực Phan Rang, và tháp Pô Klông Mơnai thuộc khu vực Phan Rí. Các vị già làng đại diện cho người Raglai – một tộc người cùng thuộc ngữ hệ Malayo-Polynésien cư trú tại vùng sườn đông của dãy Trường Sơn thuộc địa phận các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận – sẽ đứng đầu đoàn người tiến xuống đồng bằng để cùng tham gia vào công tác tổ chức. Vào những năm thời tiết thuận lợi, mùa màng bội thu, số lượng người Raglai xuống tham dự lễ hội lại càng thêm phần đông đúc.

Họ cẩn thận mang theo vương miện, y phục cổ của các vị vua Chăm cùng hàng loạt báu vật gia bảo mà hoàng tộc Chăm từng ký thác, gửi gắm cho họ trông coi và thờ phụng trong những giai đoạn lánh nạn lên vùng núi cao hoặc sang đất nước Campuchia thuở trước. Giờ đây, cứ mỗi dịp Mbăng Katê quay về, họ lại đem những bảo vật này cùng với các sản vật địa phương hướng về chốn lăng tháp cũ để kính cẩn dâng lên thần linh. Người dẫn dắt đoàn đại biểu Raglai về tham dự ngày hội là ông Jơngưi, tức vị ông từ chuyên trách việc bảo quản, quản lý các báu vật của nhà vua và chư thần.

Ban Tế Lễ Và Nghi Thức Thỉnh Y Phục Đêm Giao Thừa

Đứng ra làm chủ lễ cho toàn bộ chương trình là thầy Cả Pasêh (hay còn gọi là vị Pô Dhia). Trợ giúp đắc lực cho thầy gồm có các ông Chămnay phụ trách việc trông coi lăng tháp và đồ thờ cúng, ông Kadhar (thầy Cò ke, người chuyên sử dụng nhạc cụ đàn Kanhi và hát các bài lễ ca), cùng với ông Muk Pajâu phụ trách việc dâng tiến lễ vật.

Vào thời điểm đêm cuối cùng của tháng 6, thầy Cả Pasêh cùng các thành viên trong ban tế tự sẽ thực hiện một nghi lễ nghiêm cẩn ngay tại danok, tức nơi lưu trữ đồ lễ của nhà vua, để cầu xin phép được thỉnh các bộ lễ phục cùng những đồ tế khí khác di chuyển lên khu vực lăng tháp. Các vật phẩm dâng cúng ở bước này bao gồm trứng gà, trầu cau, rượu trắng, các loại bánh truyền thống và trái cây tươi. Ngay sau lời khấn nguyện của vị chủ lễ Pô Dhia, ông Kadhar Gru (thầy Cò ke) sẽ bắt đầu kéo những giai điệu từ cây đàn Kanhi, kết hợp cất giọng hát bài ca ngợi ca công lao đức độ của nhà vua cùng những vị anh hùng có công với đất nước. Lúc này, ông Muk Pajâu tiến hành phần việc dâng lễ vật lên bàn thờ.

Tiếp nối mạch tế lễ, ông Chămnay và ông Jơngưi sẽ bước lên phía trước để đọc lời khấn chúc mừng thần linh. Hòa cùng tiếng nhạc cụ rộn rã, những người dân đi theo xung quanh cũng đồng thanh cầu nguyện theo ước nguyện riêng của bản thân, và khi hoàn khấn, ai nấy đều thực hiện các điệu múa dâng lễ uyển chuyển. Nghi thức thỉnh y phục linh thiêng này thường kéo dài liên tục cho đến tận đêm khuya mới chính thức khép lại.

Nghi Thức Rước Lễ Và Các Hoạt Động Tại Tháp Cổ

Hoạt động rước y phục của nhà vua từ danok lên trên các quần thể lăng tháp được triển khai vào buổi sáng ngày hôm sau. Dẫn đầu đoàn rước là các thầy tế lễ uy nghiêm trong trang phục áo choàng dài màu trắng, đầu quấn khăn trắng chỉn chu. Di chuyển ngay phía sau là các vị thân hào, nhân sĩ cùng các chức sắc có uy tín trong làng được phân công phụ trách việc thờ tự tại lăng tháp đó. Tiếp đến là hệ thống các kiệu rước đặt các bộ lễ phục long trọng, có lọng che hầu hạ ở hai bên vế. Theo sát gót đoàn kiệu là một đội ngũ các thiếu nữ trẻ tuổi vừa bước đi vừa thực hiện các điệu múa quạt nhịp nhàng trong không gian âm nhạc rộn rã, tươi vui.

Khi đoàn diễu hành hành lễ tiến lên đến khu vực cửa tháp, các vị chức sắc bao gồm thầy Pô Dhia, ông Chămnay, thầy Kadhar Gru, bà Muk Pajâu cùng ông Jơngưi sẽ cùng nhau thực hiện nghi lễ mở cửa tháp (Pơh Yang) rồi mới chính thức bước vào bên trong lòng tháp. Sau khi hoàn thành xong nghi thức tẩy thể, lau táng cho tượng vua (Pamưnay Yang), ông Jơngưi sẽ cung kính dâng bộ lễ phục để thầy Cả Pasêh Pô Dhia làm phép thanh tẩy trước khi tiến hành khoác lên cho tượng vị hoàng đế, trong khi đó thầy Cò ke Kadhar tiếp tục gảy đàn và hát các bài lễ ca truyền thống.

Song song với quá trình bà Muk Pajâu dâng tiến các mâm lễ, thầy Pô Dhia sẽ thực hiện các động tác mang tính biểu tượng, coi như các vị thần linh đã giáng thế để thụ hưởng lễ vật. Ở giữa thời điểm hành lễ tâm linh này, người dân sẽ tập trung quan sát kỹ lưỡng hướng cháy và ánh sáng của những cây nến làm bằng sáp ong được thắp trên bàn thờ nhằm dự đoán xem thần linh đã về chứng giám hay chưa. Dựa trên quan niệm tín ngưỡng dân gian lâu đời, nếu ngọn lửa từ các cây nến sáp ong tự động tách thành hai ngọn ngọn rạch ròi, hiển thị hai sắc màu đậm nhạt khác biệt nhau, thì đó là điềm báo chứng tỏ thần linh đã hiển linh về ngự hưởng. Nếu hiện tượng này vẫn chưa xuất hiện, tất cả mọi người có mặt sẽ tiếp tục đồng lòng cầu nguyện, kết hợp chặt chẽ với những động tác múa lễ dâng thần. Chính vì đặc trưng này mà cuộc tế lễ đôi khi kéo dài liên tục trong nhiều giờ đồng hồ.

Trong khoảng thời gian diễn ra tế lễ bên trong, tại khu vực không gian bao quanh khuôn viên đền tháp, các nhóm du khách và người dân tự động tập hợp thành từng cụm nhỏ. Ở góc này, người ta tổ chức các nhóm hát lễ, tụng đọc câu kinh và dâng cúng sản vật; ở góc đối diện, những hoạt động ngâm thơ, gảy đàn hát xướng diễn ra rôm rả. Ai cảm thấy đói bụng có thể chủ động sửa soạn các phần thức ăn đã mang theo từ nhà để thưởng thức ngay tại chỗ. Tại một góc khác, những nhóm người quen lâu ngày mới có cơ hội hội ngộ lại tụ họp bên nhau, vừa ăn uống vừa râm ran hàn huyên câu chuyện cũ. Một số bạn gái thiếu nữ còn rủ nhau đi vào khu vực đền để “xin chữ nghĩa của thần” nhằm cầu mong sự thông tuệ.

Không Gian Hội Hè Tại Phum Sóc Và Các Gia Đình

Vào khoảng thời gian từ 3 đến 4 giờ chiều, chuỗi tế lễ cúng bái tại hệ thống lăng tháp chính thức khép lại. Các đoàn người bắt đầu thu dọn đồ đạc, rời khỏi khu vực đền tháp và tỏa dần về các nẻo đường xóm làng phum sóc. Lúc này, những người Chăm theo hệ phái đạo Bà La Môn sẽ bắt tay vào công việc sửa soạn để tổ chức các mâm cúng ông bà, tổ tiên ngay tại không gian ngôi nhà của mình. Đây là thời điểm mọi người náo nức đi thăm viếng qua lại, cùng nhau hòa mình vào các hoạt động vui chơi và tự tay chế biến các món ăn mang đậm bản sắc ẩm thực dân tộc để thết đãi khách khứa đến chơi nhà.

Rất nhiều hội thao, trò chơi dân gian vui nhộn được ban tổ chức triển khai, thu hút được số lượng lớn người dân nhiệt tình tham gia tham gia. Tiêu biểu có thể kể đến hội thi tài năng dệt thổ cẩm truyền thống tại làng Mỹ Nghiệp, hoạt động tham quan không gian triển lãm các sản phẩm thủ công mỹ nghệ dệt và gốm sứ tinh xảo, hay cùng nhau thưởng thức các chương trình biểu diễn ca múa nhạc, đàn ca tài tử… Cứ như vậy, không khí ngày hội tưng bừng tiếp tục được duy trì và kéo dài suốt ba ngày liên tiếp. Theo tập tục từ thời xa xưa, sau khi ngày lễ hội Mbăng Katê chính thức kết thúc, người Chăm còn duy trì một nét văn hóa kiêng cữ là không vội vã ra đồng làm việc cho đến khi bước sang hết tháng 7 lịch Chăm.