Đình Đại Lan – Thanh Trì, Hà Nội

Tọa lạc tại thôn Đại Lan, thuộc xã Duyên Hà, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, đình Đại Lan mang trong mình những giá trị văn hóa và lịch sử bền vững qua thời gian.

Nguồn gốc hình thành và quá trình di dời

Theo truyền gian truyền lại, cụm di tích gồm đình, chùa và nghè Đại Lan đã xuất hiện từ lâu đời. Do nằm sát bờ sông Hồng, dòng chảy bồi lở liên miên đã khiến ngôi làng phải dịch chuyển địa điểm nhiều lần, khi thì sang bờ nam, lúc lại chuyển về bờ bắc. Mỗi đợt dời làng như vậy, người dân lại cùng nhau tháo dỡ và di chuyển đình, chùa theo đến vùng đất mới.

Các bậc thần linh và danh nhân được thờ phụng

Ngôi đình là nơi tôn nghiêm thờ cúng ba vị đại vương từng có công lớn đánh đuổi giặc ngoại xâm dưới thời Hùng Vương, bao gồm: Linh Hồ, Minh Chiêu và Cung Mục.

Bước sang triều đại nhà Lê, danh nhân Nguyễn Như Đỗ được tôn phong làm Á thánh để thờ phụng chung cùng ba vị thành hoàng gốc. Nhân vật lịch sử này mang tên chữ Mạnh An, hiệu Khiêm Trai, chào đời năm 1434. Ông đỗ đạt bảng nhãn khi mới tròn 19 tuổi, từng đảm nhận ba lần đi sứ phương Bắc và thăng tiến đến chức thượng thư, sau đó được triều đình gia phong tước Thái bảo Lan quận công.

Khi về già, ông lui về trí sĩ tại vùng Từ Dương và thọ đến 102 tuổi. Học giả Phan Huy Chú (1782 – 1840) từng ghi chép về cuộc đời ông trong tác phẩm Lịch triều hiến chương loại chí với lời đánh giá: “Ông lúc trẻ thi đỗ khôi nguyên, khi lớn làm quan to, cũng là hiếm có trong hoạn đồ”.

Suốt quãng thời gian làm quan và gánh vác nhiều trọng trách lớn của triều đình, ông luôn giữ phẩm chất thanh liêm, tính cách cương trực nên được triều đình kính trọng cùng nhân dân yêu mến. Lúc qua đời, nhà vua đã ban chiếu chỉ cho phép nhân dân lập đền thờ ông làm thành hoàng làng.

Đặc điểm kiến trúc và kho tàng di vật quý giá

Công trình kiến trúc hiện nay sở hữu mặt bằng hình chữ đinh (chuôi vồ), bao gồm tòa đại đình 3 gian kết hợp với hậu cung 2 gian. Trải qua nhiều đợt tu sửa qua các thời kỳ, quy mô kiến trúc của ngôi đình đã thu hẹp lại dần so với thuở ban đầu.

Dẫu vậy, nơi đây vẫn gìn giữ được 11 đạo sắc phong giá trị, trong đó cổ nhất là sắc phong mang niên hiệu Chính Hoà năm thứ 12 (tức năm 1691).

Quyết định xếp hạng di tích

Nhờ những giá trị đặc biệt về văn hóa, lịch sử và nghệ thuật, cụm công trình đình và chùa Đại Lan đã chính thức được Bộ Văn hoá – Thông tin công nhận và xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia vào ngày 21/01/1989.