Ý nghĩa trống đồng và trống da trong văn hóa tâm linh người Việt vào thời kỳ cổ đại, gắn liền với sự phát triển rực rỡ của nền văn minh Đông Sơn, người Việt xưa đã đúc nên nhiều chiếc trống đồng quý giá. Những hiện vật này được khắc họa sinh động các hoa văn trang trí phong phú, xoay quanh các đề tài về biểu tượng thiên nhiên, con người, chim thú hay cảnh chèo thuyền… Giới khoa học nhận định rằng trống đồng chứa đựng rất nhiều tầng ý nghĩa khác nhau. Đó có thể là biểu hiện cho quyền uy tối thượng của vị tù trưởng, phản ánh hệ thống lịch pháp cổ, hoặc đóng vai trò như một phương tiện tâm linh để giao tiếp với các đấng tầng trên. Mặc dù vậy, việc các cổ vật thuộc thời đại xa xưa này nắm giữ vai trò cụ thể nào trong hệ thống đồ thờ cúng vẫn chưa được xác định một cách rõ ràng.
Bước sang giai đoạn quân chủ, nhiều chiếc trống đồng đã được sử dụng với tư cách là trống trận. Những trang sử cũ từng ghi lại rằng tướng giặc khi nghe thấy tiếng trống trận của người Việt đã kinh hồn bạt vía đến mức bạc cả đầu tóc. Các chiếc trống trận oai hùng ấy liệu có mối liên hệ nào với đền Đồng Cổ tại vùng Bưởi (Hà Nội) – nơi mà các vị vua triều Lý thường tập hợp quan lại để cùng nhau thực hiện nghi thức tuyên thề? Hiện nay, chiếc trống cổ nguyên bản này không còn tồn tại. Tuy nhiên, khi được đặt tại đền Đồng Cổ, trống chắc chắn đã trở thành một linh vật thiêng liêng, được thần thánh hóa để làm biểu tượng cho hạnh phúc vững bền và quyền lực tối cao. Dẫu vậy, kiểu dáng của nó có thực sự bắt nguồn từ những dạng trống Đông Sơn hay không thì cho đến ngày nay chúng ta vẫn chưa thể tường tận.
Đến thời Tây Sơn vào những năm cuối thế kỷ XVIII, một điều vô cùng may mắn là chúng ta đã tìm thấy một chiếc trống đồng được tôn trí thờ tự tại một ngôi chùa làng thuộc khu vực Gia Lâm (hiện vật này hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử). Xét về mặt hình dáng, chiếc trống này có thiết kế tương tự như loại trống da cỡ trung ngày nay, sở hữu phần tang trống khum khum cong tròn đều đặn và chỉ được đúc kín ở một mặt duy nhất. Trước những kiểu thức tạo hình như trống Tây Sơn, khá nhiều nhà nghiên cứu cho rằng cấu trúc của nó gắn liền với dáng dấp của trống da, mà loại trống da này lại ít nhiều chịu sự ảnh hưởng từ văn hóa Trung Hoa.
2. Hệ thống trống da trong đời sống đình đền Việt
Trong tâm thức của người Việt, nhạc khí này được gọi bằng nhiều danh xưng khác nhau căn cứ vào kích cỡ cùng với công năng sử dụng. Khi đóng vai trò là đồ thờ cúng, người xưa thường định danh các chiếc trống lớn là trống sấm. Loại trống này thường sở hữu kích thước bề mặt xấp xỉ từ 50 cm trở lên, thậm chí có những chiếc mặt trống được bọc bằng cả tấm da của một con trâu mộng. Chiều cao của trống sấm dao động tương ứng từ khoảng 70 cm cho đến trên 1,5 m (điển hình như chiếc trống tại chùa Thầy và một số địa điểm khác). Thuở xưa, trống sấm thường được treo trang trọng trên những chiếc giá gỗ được chạm khắc hết sức tỉ mỉ.
Chiếc giá treo trống sấm tại đền vua Đinh ở Hoa Lư (Ninh Bình) được đánh giá là một tác phẩm nghệ thuật có niên đại thuộc hàng sớm nhất ở nước ta, cụ thể là vào khoảng cuối thế kỷ XVII. Phần đỉnh của giá trống thể hiện hình ảnh một đôi rồng với những dải đao mác sắc nhọn tỏa ra, viền mép phía trên chính là thân rồng. Lối tạo hình rồng hai đầu chung một thân này dễ làm chúng ta liên tưởng đến hình tượng con gióng trong nền nghệ thuật của người Mường, hoặc hình rồng chạm khắc trên bàn đạp yên ngựa từ thời Trần. Kiểu thức mỹ thuật nêu trên được đông đảo các nhà nghiên cứu mỹ thuật cổ truyền nhận định là mang đặc trưng thuần Việt và hiếm khi xuất hiện tại Trung Hoa.
Phía dưới bụng của đôi rồng này là một cặp rồng khác được chạm khắc trong tư thế chầu mặt trời. Thấp xuống phía dưới là một thanh đòn ngang ăn mộng trực tiếp vào đầu hai chiếc cột dọc để cấu thành giá treo vững chãi. Tại hai góc áp sát vào thân cột và đỡ lấy phần bụng của giá treo là hai đầu rồng chế tác theo lối đầu dư trong kiến trúc truyền thống. Thân cột dọc cũng được đục chạm hình rồng vô cùng chi tiết, sau đó phần chân cột được chôn chặt vào một bộ đế có kết cấu theo kiểu đấu “con sơn”. Riêng về chiếc trống đại nguyên bản của đền vua Đinh thì không có nhiều điểm khác biệt so với trống ở các khu di tích cùng thời kỳ. Phần tang trống được sơn màu đỏ mận đặc trưng để làm nền cho các họa tiết trang trí hình rồng và mây cuộn vẽ bằng nhũ vàng lộng lẫy. Mặt trống được bao viền xung quanh mép bởi một dải hoa văn chữ S nằm ngang nối đuôi nhau liên tục, còn khu vực trung tâm là biểu tượng hình tròn “lưỡng nghi”.
Ở các giai đoạn lịch sử muộn hơn, giá treo trống thường được thiết kế tối giản hơn rất nhiều. Không hiếm trường hợp thanh đòn treo trống chỉ gồm một đôi rồng bò ra với phần thân đồng nhất luôn vào thanh đòn. Thậm chí có lúc giá treo hoàn toàn vắng bóng hình rồng, thay vào đó thanh đòn này chỉ được tạo điểm nhấn bằng một vài cụm mây cuộn phân bố cân xứng. Các bậc cao niên tại Hoa Lư cũng như tại nhiều vùng đất khác chia sẻ rằng, trong các trường hợp tối giản này, hình tượng rồng đã được đồng nhất hóa với bầu trời đầy mây, còn các dải đao mác của rồng tượng trưng cho sấm chớp. Đó là một chỉnh thể biểu đạt chứa đựng nguồn gốc sâu xa của nguồn nước. Trong khi đó, chiếc trống với phần tang màu đỏ kết hợp cùng họa tiết rồng mây lại là biểu hiện của bầu trời tràn đầy sinh khí, và hoa văn chữ S cũng được xem là hình ảnh mô phỏng của những tia chớp. Mỗi khi tiếng trống vang lên, đó là lúc lưỡng nghi đối đãi, đất trời vần xoay, đồng thời người xưa cũng xem âm thanh đó như tiếng sấm linh thiêng gọi mưa về mang theo mùa màng tươi tốt, giúp cho muôn loài được sinh sôi nảy nở theo quy luật thường hằng của tự nhiên.
Nhìn một cách tổng thể, trống sấm được bài trí trong các không gian di tích mang ý nghĩa sâu sắc về việc cầu mong sự phồn thực, mà đối với cư dân nông nghiệp nước ta thì biểu hiện trực tiếp chính là nghi thức cầu mưa. Theo thời gian, những chiếc trống này dần trở thành trống hội, làm nức lòng người đi trẩy hội và trở thành lời nguyện cầu phúc lành gửi gắm tới mọi nhà. Tại các ngôi đình, ngôi đền gắn liền với các nghi thức rước kiệu, người ta còn sử dụng chiếc trống khẩu (còn được gọi là trống lệnh). Đây là loại trống nhỏ có độ dày chỉ khoảng 7 đến 8 cm, đường kính mặt trống rộng trong khoảng 20 đến 30 cm và có thiết kế thêm một chiếc cán cầm tay. Trống khẩu được gõ điểm nhịp nhằm mục đích chỉ huy đội ngũ khênh kiệu, tạo nên một không khí trang nghiêm và gìn giữ trật tự cho buổi lễ.
Đối với những ngôi chùa thuần túy thờ Phật, vào thời kỳ xưa thường sẽ không bài trí trống da do xuất phát từ lòng từ bi của nhà Phật. Tuy nhiên, tại những ngôi chùa kiêm tính chất đền (tức là không gian tín ngưỡng vừa thờ Phật lại vừa thờ Thánh) thì những chiếc trống da vẫn xuất hiện và được sử dụng rộng rãi.
3. Ý nghĩa và công năng của trống trong nghi lễ Phật giáo
Trong tài liệu Tập san Nghi Lễ, ý nghĩa sâu xa của chiếc trống trong đạo Phật đã được ghi chép và diễn giải cụ thể như sau:
a) Về mặt xuất xứ tâm linh
Sách kinh Kim Quang Minh có chép lại câu chuyện: Một hôm, Ngài Tin Tưởng Bồ Tát nằm mộng nhìn thấy một chiếc trống bằng vàng có kích thước vô cùng to lớn. Chiếc trống ấy tự thân tỏa ra những luồng hào quang sáng rực rỡ như ánh mặt trời. Ở bên trong vầng hào quang đó, Ngài nhìn thấy rất nhiều Đức Phật đang an tọa trên các tòa sen làm bằng lưu ly đặt ngay dưới các gốc cây trân báu. Vây quanh các Đức Phật là hàng trăm nghìn ức vị đại đệ tử đang chăm chú lắng nghe chánh pháp. Ngay lúc đó, có một người trông như vị giáo sĩ thuộc đạo Bà La Môn đang cầm dùi trống và đánh mạnh vào chiếc trống vàng nói trên. Tiếng trống vang rền khắp không gian nghe như những lời kinh sám hối thanh tịnh. Sau khi tỉnh giấc mộng, Ngài Tin Tưởng Bồ Tát đã đem toàn bộ những điềm lành mà mình nghe thấy và chứng kiến trong giấc mơ để thành kính dâng trình lên Đức Thế Tôn.
Bên cạnh đó, trong kinh Lăng Nghiêm cũng có đoạn ghi chép lời dạy của Đức Phật: “Này A Nan, ông hãy lắng nghe tiếng trống mỗi khi nhà chùa dọn cơm xong và tiếng chuông mỗi khi nhóm họp đại chúng ở trong tịnh xá Kỳ Đà này. Tiếng trống cùng tiếng chuông ấy vang lên trước sau nối tiếp nhau liên tục. Vậy theo ý của ông, mỗi khi ông nghe được các thứ âm thanh ấy là do âm thanh tự bay đến bên tai ông, hay là tai của ông tự tìm đến nơi phát ra âm thanh ấy?”
b) Ý nghĩa biểu tượng và cách thức sử dụng
Trong chốn thiền môn, trống được phân chia làm hai loại chính là trống đại (trống lớn) và trống tiểu (trống nhỏ). Trống tiểu còn có tên gọi khác là trống kinh. Trống đại là loại trống có kích thước lớn, thường được đánh vào các thời điểm cố định như trước khi thỉnh chuông u minh vào lúc đầu hôm (đêm muộn) và lúc cuối đêm (rạng sáng). Phương thức đánh loại trống này tuân theo thể thức của bài “Tam luân cửu chuyển”. Nội dung các bài kệ đánh trống ấy mang ý nghĩa rằng: Do tiếng trống là biểu tượng đại diện cho chánh pháp, cho nên chúng sanh một khi được lắng nghe tiếng trống chánh pháp này thì mọi nghiệp chướng sâu dày đều sẽ tiêu trừ, từ đó được giải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử.
Ngoài các khung giờ cố định trên, trong những buổi thuyết pháp hay khi cử hành các đại lễ lớn tại điện Phật, người ta cũng đều sử dụng loại trống lớn này. Cụ thể, khi các vị hòa thượng thăng tòa thuyết pháp, nhà chùa sẽ đánh ba hồi trống lơi để triệu tập thánh chúng, hồi trống này còn được gọi với danh xưng là trống phổ cáo. Đối với việc tổ chức các nghi lễ long trọng như lễ thỉnh Tam bảo, lễ khai kinh, hay lễ cúng ngọ… trống đại sẽ được đánh theo đúng thể thức của bài “Bát Nhã hội”, mà trong dân gian thường gọi quen thuộc là hồi chuông trống bát nhã.
Trái lại, trống tiểu là loại trống kích thước nhỏ, chuyên dùng để gõ điểm nhịp trong những lúc đại chúng tụng kinh, trì chú, đọc bài sám hoặc trong các đàn trai đàn chẩn tế lớn… Chính vì thế, loại nhạc khí này còn được gọi là trống kinh. Cách thức đánh trống kinh tương đối phức tạp và không có một quy luật hoàn toàn thống nhất nào giữa các nơi. Do đó, mỗi địa phương lại sở hữu những lối đánh khác nhau. Tuy nhiên, về mặt đại thể thì người cử lễ chỉ đánh theo đúng nhịp điệu và theo âm vận trầm bổng, lên xuống của các bài kinh, bài sám hay bài tán tụng mà thôi. Thêm vào đó, việc điểm trống kinh còn góp phần giúp cho buổi lễ tăng thêm phần trang nghiêm, long trọng, đồng thời đây cũng là một món pháp khí hòa cùng các loại nhạc cụ khác để cúng dường lên Tam bảo.
