Tượng Phật giáo thời Mạc thế kỷ XVI

Tượng Phật giáo thời Mạc thế kỷ XVI ,người trong nghề chúng tôi mỗi khi đối trước những pho tượng cổ luôn tự răn mình phải nhìn sâu vào từng thớ gỗ, nét đục để hiểu cái tâm của người xưa. Nhắc đến tượng Phật giáo Việt Nam, sau khi mạch tượng thời Lý gần như chấm dứt vào những năm ba mươi của thế kỷ XII, trải qua một chặng dài biến cố lịch sử, loại tượng này hầu như không còn dấu vết dưới triều Trần và Lê sơ. Phải đợi đến thế kỷ XVI, dưới một triều đại có phần dân chủ như nhà Mạc, các ngôi chùa mới được quan tâm rộng rãi trở lại.

Nói về lịch sử nước mình, từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIX, hai hệ triết học Phật và Nho luôn thay nhau chi phối thượng tầng tư tưởng. Khi Nho thịnh thì Phật suy, khi Nho suy thì Phật lại thịnh, có lúc hai hệ này kết hợp với nhau. Thời Mạc ở giai đoạn đầu, ngôi chùa vẫn gắn nhiều với tầng lớp trên. Nhưng từ giữa và nửa sau thế kỷ XVI, chùa chiền mới thực sự trở lại vị trí vốn có trong xã hội. Phật điện dần đầy lên với các bộ tượng Tam Thế, Quan Âm, Tứ Pháp… Đây là những Phật điện với các tượng Thánh Nhân của thế giới siêu nhiên Phật giáo hoặc các lực lượng thiên nhiên gắn liền với cuộc sống nông nghiệp đã được Phật giáo hóa. Ở một góc độ nào đó, sự phát triển này phần nào chịu ảnh hưởng mới của Phật giáo Trung Hoa khi đường biên giới văn hóa có phần bị bỏ ngỏ trước nạn xung đột của các tập đoàn thống trị trong nước.

Bộ Tượng Tam Thế Thời Mạc – Nét Kế Thừa Vừa Thần Thánh Vừa Gần Gũi

Cái hay của bộ tượng Tam Thế trước hết nằm ở cái tên đầy đủ: “Tam Thế thường trụ diệu Pháp thân”. Người làm nghề hiểu nôm na, Pháp thân là cái thân chân thật, là đạo thể, pháp tính. Diệu là đẹp, sáng, sạch, tinh tế, nhiệm màu, thoát khỏi phiền não. Thường trụ là luôn luôn tồn tại, không lệ thuộc vào bất kể điều kiện nào, không sanh không diệt, không thay đổi, không gián đoạn. Tên gọi này có nghĩa là pháp thân chân thật đẹp đẽ của các đức Phật ở cả ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai tồn tại vĩnh hằng, không bị lệ thuộc vào hình, danh, sắc, tướng của thế giới hữu hình, không bận lòng bởi không gian và thời gian.

Một ý nghĩa khác gắn với tên gọi này là “Tam Thế Tam Thiên Phật”, bao gồm “Quá Khứ Thế” (Trang Nghiêm Kiếp) có 1000 vị Phật, “Hiện Tại Thế” (Hiền Kiếp) gồm 1000 vị Phật và “Vị Lai Thế” (Tinh Tú Kiếp) có 1000 vị Phật khác. Như vậy, tuy chỉ gồm ba pho tượng nhưng bộ Tam Thế đại diện cho 3000 vị Phật ở ba đại kiếp (mỗi đại kiếp tương ứng 1.344.000.000 năm) chứ không chỉ đích danh một vị Phật cụ thể nào.

Ở thế kỷ XVI, tượng Tam Thế xuất hiện khá nhiều trên địa bàn rộng, kích thước không lớn, chỉ bằng người thực hoặc nhỏ hơn. Đặt nhát đục vào mỗi thời mỗi khác, phong cách Mạc đã khác phong cách Lý, không thể nói mỹ thuật Mạc hoàn toàn từ mỹ thuật Lý mà ra vì điều kiện xã hội hai thời kỳ này khác nhau. Tuy nhiên, về hình thức và bố cục, tượng thời Mạc vẫn có nhiều nét kế thừa gần gũi với phong cách Lý, nhất là tượng Tam Thế.

Người đương thời không ghi lại chữ nào trên tượng hay bệ tượng nên chưa bộ Tam Thế nào tìm được niên đại cụ thể. Dù vậy, dựa vào bố cục, dáng tượng và trang trí ở bệ (vốn rất gần gũi với bộ tượng Quan Âm cùng thời có niên đại bằng đá rõ ràng), chúng ta có thể yên tâm xếp các tượng này vào thời Mạc.

Bố Cục Và Diện Tướng Tượng Tam Thế

Trên Phật điện, bộ tượng Tam Thế được xếp ngồi ngang nhau (có khi pho giữa đặt cao hơn) ở vị trí cao và sâu nhất. Lấy bộ Tam Thế ở chùa Thầy làm dẫn chứng, nét chung dễ nhận thấy là hình khối cân đối, vững chãi theo bố cục hình tháp, không quá cao hay bệ vệ. Đầu tượng sơn màu gụ thẫm với các cụm tóc xoắn ốc nhỏ ken nhau – sự dung hội của tín ngưỡng dân dã vào tạo hình Phật giáo. Màu sẫm của tóc tượng trưng cho bầu trời hạnh phúc chứa nguồn nước no đủ, còn tóc xoắn là biểu tượng của chữ Vạn, của lửa, của chớp sấm, tiếng gọi của phồn thực.

Mặt tượng sơn màu tử kim (vàng ròng), một màu phổ biến cho tượng gỗ của người Việt từ thế kỷ XVI về sau để biểu hiện ý nghĩa giải thoát và sự sùng kính. Mặt tượng trái soan, phần sọ khá nở, má chưa xệ xuống, nguyệt mi (lông mày cong hình trăng lưỡi liềm) nối với sống mũi thánh thiện. Mắt khép hờ nhìn xuống đỉnh mũi soi rọi nội tâm trầm mặc sâu lắng, khác với nét nhìn áp chế của tượng Trung Hoa cùng thời. Miệng mỉm cười tự nhiên, môi chưa thu ngắn hay dày lên như tượng thời sau. Tai dày và dài, chưa đeo hoa. Ở một số chùa khác như chùa Nành, tướng Sahasrâra (Vô kiến đỉnh tướng thể hiện trí tuệ tuyệt đỉnh do Thiền mà có) được biểu hiện thành một khối tròn hữu hình đặt trên nhục khấu với màu tử kim.

Chi Tiết Trang Sức Chữ Vạn Và Y Áo

Cổ tượng vừa phải, cân xứng, đeo anh lạc đè trên ngực. Dây anh lạc kết bởi hàng hạt nhỏ hợp với vân xoắn để treo bông cúc mãn khai (chùa Nành) hay chữ Vạn (chùa Dâu). Đến thế kỷ XVI, chữ Vạn mới xuất hiện ở tạo hình Việt, vốn là biểu tượng của người A-ri-ăng biến tướng từ hoa mặt trời tám cánh gắn với thần lửa Agni. Trên ngực tượng, hoa cúc mãn khai đồng nhất với chữ Vạn để nâng cao uy lực của đức Phật và đề cao tinh thần tu thiền nơi trái tim (khi thần xà Kundalini vươn tới luân xa Anahata ở ngực).

Tay tượng thường để trong thế Thiền định, mặc áo cà sa nhiều lớp, ống tay rộng dài vạt phủ qua lòng đùi, chân xếp lô xô cân xứng trên bệ ngồi, hoặc vạt áo chảy vượt qua mặt bệ phù xuống đài sen chạm bong kênh đầu nhọn. Áo tượng chưa phức tạp, nếp áo không rối, dáng bó sát người lộ khối cơ thể theo kiểu thức thời Lý (vai nở bụng thon). Dù vậy, tượng thời Mạc mang tính người hơn, dày dặn và ngồi tự nhiên hơn do chịu chi phối của phong cách dân dã, tỷ lệ “toạ tứ” xấp xỉ hơn ba đầu chút ít chứ không nghiêm ngặt như tượng Phật Tích thời Lý.

Tượng Quan Âm Nam Hải Thời Mạc – Đỉnh Cao Chạm Khắc Kỹ Thuật

Khái niệm Quan Âm (Quan Thế Âm) nghĩa là nghe tiếng kêu đau khổ của chúng sinh để cứu vớt. Người có pháp lực vô lượng, thiên thủ thiên nhãn (tay thần mắt thần) và nắm vững pháp “Chuẩn đề” linh nghiệm nhất. Ở nước ta, tượng Quan Âm nhiều tay (8, 12, 14, 18, 22, 24, 36, 42, 48 tay lớn cùng nhiều tay nhỏ) đều được gọi chung là “Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn” hoặc “Phật mẫu chuẩn đề”.

Trong lịch sử, Quan Âm được nhắc tới từ thế kỷ XI, nhưng hình thái thờ Quan Âm Nam Hải gắn với tích truyện công chúa Diệu Thiện (con vua Diệu Trang) tu hành chứng quả tại chùa Hương Tích (Hà Tây) mới xuất hiện từ thế kỷ XVI. Các pho tượng điển hình có thể kể đến ở chùa Đa Tốn (Gia Lâm), chùa Thượng Trưng (Vĩnh Lạc), chùa Bối Khê (Thanh Oai), chùa Động Ngọ (Thanh Hà). Trong đó tượng chùa Động Ngọ có khắc niên đại Diên Thành thứ năm (1582), tượng chùa Thượng Trưng có bia ghi năm 1592, giúp chúng ta xác định rõ phong cách thời kỳ này.

Đặc Điểm Thiên Quan Và Diện Tướng

Đầu tượng nổi bật với hệ thống “Thiên quan” gần như mũ Tỳ Lư. Phần ngoài là vành bao chạy từ đỉnh tai nọ sang tai kia, phần trong là tấm che búi tóc cuộn ngược hoặc vành thiên quan thứ hai song hành (chùa Thượng Trưng). Điểm đặc biệt là Thiên quan được đục liền khối với đầu tượng, trang trí nụ sen hoặc hoa cúc nổi khối cùng các hạt tròn xếp cân xứng hình tháp hoặc các đầu tượng Phật nhỏ. Đường nét mạnh mẽ, khúc chiết này cho thấy sự phát triển của thương nghiệp thời bấy giờ đã tác động vào nghệ thuật vượt ra ngoài sự uyển chuyển của nền kinh tế nông nghiệp.

Diện tướng tượng mang bộ mặt nữ hiền dịu, đầu hơi cúi xuống. Mặt tượng vừa giữ nét trí tuệ thời Lý (sọ nở, hàm thon) vừa phảng phất vẻ tươi mát, đôn hậu của người thôn nữ, gần gũi với cuộc đời thực. Thân tượng vai nở, bụng thon tròn đến mức cuồng điệu (kiểu lưng ong) nhưng thế ngồi tự nhiên, ít ngả về trước hơn thời Lý.

Hệ Thống Tay Ấn Và Đài Sen Bệ Đỡ

Tượng chùa Đa Tốn là pho Quan Âm Nam Hải sớm nhất nước ta với 42 tay lớn và 652 tay nhỏ mọc thành năm lớp cân xứng hai bên sườn. Các ngón tay búp măng dài, đôi tay lớn trên cùng đỡ mặt trăng mặt trời hoặc tòa tháp. Các tay khác kết ấn như: Liên hoa hợp chưởng ấn (chắp trước ngực), Tam muội ấn (ngửa tay đặt trên đùi), Gia Trì bổn tôn ấn, ấn Vô úy, ấn Cam Lộ… Các cánh tay mở rộng dần như hoa nở, tuy mềm mại điêu luyện nhưng chủ yếu giới hạn góc nhìn ở phía chính diện. Áo tượng không bao kín, không tay, nhiều nếp, đầu vạt áo chạm bong kênh buông lửng thành mũi nhọn.

Đài sen tách rời tượng, các cánh sen được làm múp phồng nhô hẳn ra theo lối chạm tròn chứ không phải chạm nổi. Lòng cánh sen phía trước chạm hoa cúc, vân xoắn. Đội đài sen là một đầu quỷ hoặc đầu rồng đại diện cho Diêm Vương (Nan Đà Long Vương hoặc Ô Ba Nan Đà Long Vương) quy y Phật pháp, nhô lên từ mặt biển đầy sóng. Dưới cùng là bệ ba tầng thắt giữa, chạm nổi hoa cúc, hổ phù, cặp sừng, u tròn trên nền lá sen hoặc cây thiên mệnh, rồng, lân… thể hiện kỹ thuật chạm khắc cực kỳ điêu luyện của người thợ Mạc.

Tượng Tứ Pháp Thời Mạc – Bản Sắc Dân Tộc Và Tinh Thần Đất Việt

Gốc của Tứ Pháp là các vị thần tự nhiên: Vân, Vũ, Lôi, Điện (Mây, Mưa, Sấm, Chớp) gắn với nghề nông. Khi đạo Phật vào Việt Nam, các thần này được Phật hóa thành hiện tượng phân thân của Phật, đền biến thành chùa nhưng vẫn giữ bản sắc riêng, điện thờ chỉ thờ một vị độc tôn. Tích Tứ Pháp gắn với Man Nương và sư Khâu Đà La, đến thời Đường có sư Vô Ngôn Thông đến tu ở chùa Dâu. Vua Lý từng rước tượng Tứ Pháp đi đánh giặc và cầu đảo.

Hiện nay, pho tượng Tứ Pháp sớm nhất tìm được là pho Pháp Lôi ở chùa Nhạc Miếu (nay đưa về chùa Thái Lạc, Mỹ Văn). Các chi tiết tạo hình như khuôn mặt, ngón chân ngón tay và hoa văn anh lạc cho thấy niên đại thế kỷ XVI rõ rệt. Tượng có nhiều nét gần gũi với tượng Phật Tích thời Lý: vai nở, bụng thon vừa phải, dáng cao. Tóc màu đen kết cụm xoắn ốc, toàn thân và áo quần sơn màu cánh gián đậm – màu của bầu trời mây đọng nước theo quan niệm dân gian về sự sinh sôi.

Mặt tượng mang nét nữ kết hợp chi tiết mặt Phật, nhìn nghiêng phảng phất nét người Ấn. Tượng khoác nhẹ mảnh la bào trên vai, ngực bụng để trần, cổ tay đeo vòng, ngón tay búp măng dài. Dáng ngồi kiết già, mặc váy nhiều nếp gợi nhắc đến nghệ thuật Gandhara và có nét tương đồng với bức chạm Bồ Tát ở tháp Mỹ Sơn của người Chăm khi ngồi hơi nhổm lên. Dù pho Pháp Lôi này còn vài nhược điểm nhỏ như phần sơn căn đến đỉnh mũi quá dài làm mặt hơi cứng, hay bàn tay xoè thẳng chưa ăn nhập với vai áo, nhưng đây vẫn là pho tượng đạt giá trị cao về nghệ thuật và đậm tính nhân văn của riêng người Việt.

Tượng Thiên Thần Và Nhạc Sĩ Thiên Thần: Nét Khoáng Đạt Của Nghệ Thuật Dân Gian

Nói về mảng điêu khắc kiến trúc, chúng ta không thể bỏ qua các tượng Thiên Thần nhỏ gắn vào đầu đòn tay của đấu ba chạc (con sơn) tại chùa Cói (Vĩnh Phú) hay chùa Hương Trai (Hà Nội). Tượng được làm đơn giản, chủ yếu thể hiện nửa thân trên. Tượng nam nữ phân biệt qua mũ đội và khuôn mặt.

Thời này, các loại mũ khăn ngoài đời đời thực đã đi vào tạo hình như mũ bì biện (Biện Mão), khăn Thanh Cát, khăn mỏ quạ, khăn vành dây. Tượng nữ thường đeo hoa tai lớn, dài chạm vai để biểu hiện sự sang quý. Mặt các nhân vật gắn với đời thường, áo mặc đơn giản ít nếp. Các nhạc sĩ thiên thần cầm nhạc cụ như sáo, tiêu, đàn tứ, tì bà, đôi khi có đôi cánh dang rộng chưa tỉa chi tiết.

Sự xuất hiện của các tượng này thể hiện tích Phật thoại Thiên Thần nhã nhạc chào mừng đức Thích Ca xuất thế, đồng thời đánh dấu hiện tượng dân dã hóa linh nhân, mang vẻ đẹp mộc mạc, đột ngột, không bị gò bó bởi quy phạm như nghệ thuật thế kỷ XI-XIV.

Lời Kết Của Người Làm Nghề

Tượng Phật giáo thời Mạc xuất hiện tương đối ồ ạt và mang đậm tư tưởng thời đại. Nhìn vào những pho tượng thế kỷ XVI, tôi thấy một sức sống bừng tỉnh đậm tính nhân văn, an ủi và gần gũi với đời sống. Những pho tượng chính là những con người đích thực – trong sáng, hồn nhiên, nhân hậu, không nét đau thương khắc khoải. Đó là sản phẩm kết tinh từ lòng sùng kính dân dã của cha ông theo lối tôn thờ “thế gian trụ trì Phật pháp”, một giá trị mà những người thợ tạc tượng đời sau như chúng tôi luôn cúi đầu ngưỡng vọng.